Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 368/2024/HS-ST

Ngày: 18-7-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thiều Thị Phi Loan;

2. Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 362/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 357/2024/QĐXXST-HS, ngày 28/6/2024 đối với:

Bị cáo: Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký thường trú: A, khu phố A, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 5/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Huỳnh Ngọc S, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1944 (đã chết). Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1981 và có 01 con sinh năm 2014. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 16/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án số 133/2019/HSST. Bị cáo L kháng cáo, vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tại Bản án số 551/2019/HS-PT ngày 21/11/2019, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, xử phạt bị cáo L 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.

Nhân thân: Ngày 07/4/2011, bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án số 64/2011/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.

Bị bắt, giam giữ từ ngày 04/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Anh Trịnh Văn H1, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/11/2019 Huỳnh Ngọc L bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, ngày 12/12/2020 L tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Do không có tiền, L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, vào khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/12/2020, L điều khiển xe mô tô biển số 54V5-6515 đi tìm tài sản để trộm cắp, khi đi đến trước cửa hàng C, thuộc tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện trước cửa hàng có để 01 cánh cửa sắt đã cũ, kích thước 2m X 0,8m của anh Trịnh Văn H1, L dừng xe lại lấy trộm bỏ lên xe rồi chở đi tìm nơi tiêu thụ, khi đi đến đoạn đường thuộc tổ F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng tuần tra Công an phường T yêu cầu dừng xe kiểm tra, đưa L về Công an phường T làm việc. Tại Công an, L đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án:

+ 01 (một) xe mô tô biển số 54V5-6515 là tài sản của ông Huỳnh Ngọc S - cha của L, L mượn để sử dụng, ngày 12/12/2020 L sử dụng phương tiện đi trộm cắp tài sản ông S không biết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông S.

+ 01 (Một) cánh cửa bằng sắt đã cũ kích thước 2m X0,8m của anh Trịnh Văn H1 bị L trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh H1.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 588/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận 01 (một) cánh cửa sắt đã qua xử dụng trị giá 200.000 đồng.

Về dân sự: Bị hại Trịnh Văn H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 364/CT-VKSBH, ngày 18/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 08 đến 10 tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/12/2020 tại cửa hàng “C S" thuộc tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Ngọc L đã có hành vi trộm cắp 01 cánh cửa sắt kích thước 2m X 0,8m trị giá 200.000 đồng của anh Trịnh Văn H1, sau đó L bị phát hiện, khởi tố để xử lý theo quy định.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:

Bị cáo đã bị đưa ra xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục phạm tội, thể hiện việc coi thường pháp luật, cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Vật chứng của vụ án:

+ 01 (một) xe mô tô biển số 54V5-6515 là tài sản của ông Huỳnh Ngọc S - cha của L, L mượn để sử dụng, ngày 12/12/2020 L dử dụng phương tiện đi trộm cắp tài sản ông S không biết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông S là phù hợp quy định pháp luật.

+ 01 (Một) cánh cửa bằng sắt đã cũ kích thước 2m X0,8m của anh Trịnh Văn H1 bị L trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh H1 là phù hợp quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp.

[7] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày giam giữ 04/3/2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc L phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP Biên Hòa;
  • - Chi cục THA DS TP Biên Hòa;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 368/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 368/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger