Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

Bản án số: 368/2024/HS-ST

Ngày: 02-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu.

Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Cảm.
  2. Ông Nguyễn Thành Châu.
  3. Ông Huỳnh Trường Sơn.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Huy Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Huy Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tiếp xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 518/TLST-HS ngày 08/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3846/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quang M (Tên gọi khác: Châu Tấn M, Châu S, Nguyễn Tấn T, Châu Tấn L); sinh năm 1980 tại tỉnh B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh B; Nơi cư trú: H đường L, khu phố H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang N (chết) và bà Lê Thị Tuyết M; Vợ là Nguyễn Thị Mộng H và có 01 con sinh vào năm 2010; Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • Ngày 11/10/2000, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 04 năm tù tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 2590/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa nộp án phí.
  • Ngày 10/5/2005, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 05 năm tù tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 725/2004/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa nộp án phí.

Nhân thân:

  • Ngày 07/11/1996, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 12 tháng tù về tội “ Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Bản án số 1731/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.
  • Ngày 09/12/1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 30 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 2306/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.
  • Ngày 31/12/2014, bị Tòa án nhân dân Quận M ra quyết định đưa vào trường cai nghiện ma túy bắt buộc 24 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quyết định số 14/QĐ-TA.
  • Ngày 27/9/2017, bị Tòa án nhân dân Quận S ra quyết định đưa vào trường cai nghiện ma túy bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quyết định số 261/ QĐ-TA.

Bị tạm giam từ ngày 23/5/2022 đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang M:

Bà Trần Thị Huy C, là Luật sư của Văn Phòng Luật TNHH Đ, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/5/2022, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy của Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đi tuần tra đến trước nhà số A đường N, Ấp M, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Trần Quang M điều khiển chiếc xe máy biển số 59S3-563.69 có biểu hiện nghi vấn, nên ra hiệu lệnh dừng xe để tiến hành kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện bên trong cốp chiếc xe biển số 59S3-563.69 có một bịch nylon màu đen, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu ở thể rắn nghi là ma túy, nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng và bắt người phạm tội quả tang (BL số 23, 24, 28, 60, 61, 62).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Quang M tại số H đường H, khu phố H, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì không thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Tại Bản Kết luận giám định số 2999/KL-KTHS ngày 31/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL số: 28) kết luận: Tinh thể không màu ở thể rắn trong 02 gói nylon mà tổ công tác thu giữ trong cốp chiếc xe biển số 59S3-563.69 là chất ma túy, có tổng khối lượng 197,84 gam, loại Methamphetamine.

Trần Quang M khai nhận: Do biết với T (không rõ lai lịch) là người mua bán ma túy, nên ngày 22/5/2022 khi gặp T tại quán cà phê H, đường A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì M hỏi mua 200 gam ma túy đá, để phân nhỏ bán lẻ cho người khác thì T đồng ý và hẹn sáng hôm sau quay lại để mua bán. Sáng ngày 23/5/2023, M đến quán cà phê Hội Quán thì gặp T và nhận 02 bịch ma túy để trong túi nylon màu đen, M bỏ túi ma túy này vào cốp xe máy để đi về và trên đường về thì bị Công an huyện B kiểm tra, bắt quả tang (BL 60, 61, 22, 63).

Vật chứng của vụ án:

  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; số IMEI: 3577511074; 01 sim card có số thuê bao: 0777139694.
  • 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi vụ số 588/2022 Bình Chánh, có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh (PC09) và đồng chí Vũ Mạnh Cường (cán bộ phòng PC04), Trần Quang M (người liên quan) bên trong là mẫu vật còn lại sau khi giám định.
  • 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không xác định, số loại: không xác định, dung tích xi lanh: không xác định, biển số 59S3-563.69, số khung: RLHJC35058Y631040; số máy: JC35E-2754724. Kết quả trả lời theo phiếu xác minh phương tiện giao thông đường bộ ngày 26/6/2023, không tìm thây dữ liệu tra cứu.

Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 21/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Quang M về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận đã có hành vi mua 197,84 gam chất ma túy, loại Methamphetamine của người có tên T và bị bắt quả tang như đã nêu trên, nhưng mục đích mua ma túy để sử dụng chứ không phải để bán lại kiếm lời.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, kết luận giám định đã đủ cơ sở để kết luận ngày 23/5/2022, bị cáo bị bắt quả tang khi thực hiện hành vi mua 197,84 gam ma túy, loại Methamphetamine về cất giấu với ý định bán lại để kiếm lời. Do đó, Cáo trạng truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận các tên gọi khác như Châu S, Nguyễn Tấn T, Châu Tấn L nhưng căn cứ trích lục tiền án, tiền sự và các bản án trước đây xét xử bị cáo thì bị cáo đều dùng các tên gọi này. Bị cáo quanh co chối tội, khai báo gian dối chỉ nhằm mục đích giảm nhẹ tội phạm. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có phần ăn năn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang M 20 năm tù và phạt bổ sung 10 triệu đồng. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 197,84 gam ma túy loại Methamphetamine và tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động và 01 xe máy thu giữ của bị cáo.

Luận cứ của Luật sư Trần Thị Huy C bào chữa cho bị cáo Trần Quang M như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo khẳng định bị cáo chỉ mua ma túy về để sử dụng nên bị cáo chỉ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xét thấy, lời khai của bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, ngoài lời khai nhận tội của bị cáo trong các bản khai thì Cơ quan điều tra không thu giữ được các tài liệu chứng cứ nào thể hiện bị cáo có ý định mua bán trái phép chất ma túy. Ngoài ra, khi khám xét chỗ ở của bị cáo thì Cơ quan điều tra cũng không thu giữ được đồ vật gì mà bị cáo sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Do đó Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là chưa đủ yếu tố pháp lý vững chắc.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với Luật sư như sau:

Số lượng ma túy mà bị cáo bị bắt quả tang gần 200 gam là tương đối lớn. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các buổi hỏi cung có ghi âm, ghi hình có đại diện Viện kiểm sát tham gia thì bị cáo thừa nhận việc bị cáo mua ma túy về để bán kiếm lời. Tại phiên tòa, bị cáo khai bị cáo biết tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nặng hơn tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo vẫn thay đổi lời khai. Bị cáo cũng khai nhận lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép cung, nhục hình. Tại phiên tòa, bị cáo khai báo quanh co chỉ thể hiện bị cáo muốn che giấu hành vi phạm tội của mình. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và giữ nguyên đề nghị mức hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát, Luật sư và bị cáo đều bảo lưu ý kiến đã tranh luận và không tranh luận nội dung nào khác.

Bị cáo M thống nhất với luận cứ bào chữa của Luật sư và không trình bày lời bào chữa bổ sung. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Tòa xem xét về tội danh và giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của bị cáo Trần Quang M trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả giám định và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, có đủ căn cứ để xác định: 197,84 gam chất ma túy, loại Methamphetamine mà Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ trong cốp chiếc xe máy biển số 59S3-563.69, vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 23/5/2022, tại trước nhà số A đường N, ấp M, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là của bị cáo Trần Quang M mua của người có tên T. Tại Cơ quan điều tra bị cáo khai mua của T khối lượng chất ma túy trên để bán cho người nghiện kiếm lời, tại phiên tòa bị cáo thay đổi lời khai cho rằng mục đích mua chất ma túy của T là để sử dụng dần. Bị cáo lý giải lời khai tại Cơ quan điều tra là không đúng sự thật, vì lúc này bị cáo hoảng hốt, mất bình tĩnh và bị Điều tra viên ép buộc bị cáo phải khai mua ma túy đê bán, nên phải khai theo. Lời lý giải nêu trên của bị cáo là không có căn cứ, vì mỗi bản khai bị cáo đều ký xác nhận là đã đọc lại lời khai và công nhận là đúng, do đó có căn cứ xác định mục đích bị cáo mua ma túy của T là để bán lại kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Nó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, mà còn có khả năng gây ra những hiểm họa khó lường cho xã hội, nếu như khối lượng chất ma túy trên không bị Cơ quan chức năng phát hiện, thu giữ kịp thời, để bị cáo phát tán đến tay người sử dụng. Bị cáo đã 02 lần bị tòa án phạt tù về tội “ Cướp giật tài sản” và đã 02 lần bị Tòa án ra quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nên bị cáo có điều kiện để nhận thức được mọi hành vi vi phạm pháp luật luôn bị xử lý. Nhận thức được vậy, nhưng sau khi hòa nhập với cộng đồng thì bị cáo không tiếp tục phấn đấu, rèn luyện để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, mà trở lại con đường phạm tội và lần phạm tội này có tính chất, mức độ nghiêm trọng hơn. Điều này cho thấy bị cáo là người khó cảm hóa, khó giáo dục, nên mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có biểu hiện ăn năn, hối hận với hành vi phạm tội của mình, nhưng với nhân thân của bị cáo không tốt và khối lượng chất ma túy mà bị cáo mua bán là rất lớn, nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”, do đó cần áp dụng phạt bổ sung bằng tiền, để tăng cường tính răn đe đối với bị cáo.

Nhận định trên cũng là lập luận của Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến tranh luận của Đại diện Viện kiểm sát và không chấp nhận luận cứ bào chữa của Luật sư đối với tội danh của bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi vụ số 588/2022 Bình Chánh, có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh (PC09) và đồng chí Vũ Mạnh Cường (cán bộ phòng PC04), Trần Quang M (người liên quan) bên trong là mẫu vật còn lại sau khi giám định.
  • 01 sim card có số thuê bao: 0777139694.

Các vật chứng trên là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị, nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.

  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; số IMEI: 3577511074;
  • 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không xác định, số loại: không xác định, dung tích xi lanh: không xác định, biển số 59S3-563.69, số khung: RLHJC35058Y631040; số máy: JC35E-2754724. Kết quả trả lời theo phiếu xác minh phương tiện giao thông đường bộ ngày 26/6/2023, không tìm thấy dữ liệu tra cứu.

Các vật chứng trên là công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng để phạm tội, nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Trần Quang M 20 (Hai mươi) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 23/5/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Trần Quang M 10.000.000 (Mười triệu) đồng, để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau:

  • 01 sim card có số thuê bao: 0777139694.
  • 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi vụ số 588/2022 Bình Chánh, có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh (PC09) và đồng chí Vũ Mạnh Cường (cán bộ phòng PC04), Trần Quang M (người liên quan) bên trong là mẫu vật còn lại sau khi giám định.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng sau:

  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; số IMEI: 3577511074 (...3768/3, mất 2 phím số, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không xác định, số loại: không xác định, dung tích xi lanh: không xác định, biển số 59S3-563.69, số khung: RLHJC35058Y631040; số máy: JC35E-2754724 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

Các vật chứng đã nêu hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/264 ngày 08/4/2024 được lập giữa Cục thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh và PC04 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm, để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 02/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Cục THADS TP.HCM; (1)
  • - Sở tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Người bào chữa; (1)
  • - Đương sự; (1)
  • - THAHS TP.HCM; (1)
  • - Phòng PC53 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (18) (4)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 368/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 368/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN QUANG MINH PHẠM TỘI "MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger