1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3673/2024/KDTM-ST Ngày: 09/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Bùi Thị Phụng
- 2. Ông Huỳnh Tiến Dũng
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ – Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 139/2024TLST-KDTM ngày 12/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4374/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 5445/2024/QĐST-KDTM ngày 16/7/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần X
Địa chỉ: D N, khu phố C, P.H, TP ., tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1980 – chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1986 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 004 Nguyễn Ái Quốc, khu phố Cầu Hang, P.Hóa An, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
2. Bị đơn: Công ty cổ phần Đ1
Địa chỉ: G đường F T, phường T, TP .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế G, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: A Đ, phường Đ, quận L, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại tòa nguyên đơn Công ty cổ phần X có người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Đức C trình bày:
Vào ngày 09/01/2023, Công ty cổ phần X và Công ty cổ phần Đ1 ký kết với nhau Hợp đồng kinh tế số 0901/2023/HĐKT/TS-ĐLP (về việc mua bán bê tông thương phẩm), theo nội dung hợp đồng; nguyên đơn bán cho bị đơn bê tông thương phẩm theo đúng quy định trong hợp đồng; tổng giá trị của hợp đồng là 7.685.992.228 đồng. Thực hiện hợp đồng mua bán bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn được số tiền là 7.175.223.403 đồng; còn lại 510.768.825 đồng bị đơn không thực hiện; vì vậy nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc còn thiếu là 510.768.825 đồng, về lãi suất nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn: Công ty cổ phần Đ1 – người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Thế G (vắng mặt không có lời khai).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Tp. tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có ký với nhau hợp đồng mua bán bê tông thương phẩm và có biên bản đối chiếu công nợ, bị đơn xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 510.768.825 đồng; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Công ty cổ phần Đ1 có địa chỉ tại số G đường F T, phường T, TP ., Thành phố Hồ Chí Minh; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về ‘Hợp đồng mua bán hàng hóa”; được pháp luật quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3]. Bị đơn Công ty cổ phần Đ1 – người đại diện theo theo pháp luật ông Nguyễn Thế G. Đã được Tòa án đã thực hiện thông báo về việc bị khởi kiện, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý; giấy triệu tập đương sự; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa tại địa chỉ của bị đơn. Nhưng người đại diện theo pháp luật của bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do, xem như đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với người đại diện theo pháp luật của bị đơn là phù hợp với quy định tại đểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4]. Nguyên đơn Công ty cổ phần X ủy quyền cho ông Nguyễn Đức C tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyện đơn – Công ty cổ phần X đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn – Công ty cổ phần Đ1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn – Công ty cổ phần X số tiền gốc còn thiếu chưa thanh toán là 510.768.825 đồng.
[2.1]. Căn cứ vào Hợp đồng kinh tế số 0901/2023/HĐKT/TS-ĐLP (về việc mua bán bê tông thương phẩm) ngày 09/01/2023 được ký kết giữa: Bên A (bên mua) Công ty cổ phần Đ1 và Bên B (bên bán) Công ty cổ phần X có nội dung: “... “Bên A đồng mua bê tông thương phẩm của bên B cho dự án khu đất 21.2ha phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai – gói thầu 88 căn nhà phố”...;
[2.2. Căn cứ vào biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31/10/2023 có nội dung: “... Công ty cổ phần Đ1 còn nợ lại bên Công ty cổ phần X số tiền 510.768.825 đồng...”;
[2.3]. Thực hiện hợp đồng mua bán (nêu trên), theo đại diện nguyên đơn trình bày nguyên đơn đã thực hiện việc cung cấp bê tông cho bị đơn theo hợp đồng và bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn được số tiền là 7.175.223.403 đồng; số tiền còn lại là 510.768.825 đồng bị đơn chưa thanh toán; là có căn cứ phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2.4.]. Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đúng quy định của pháp luật, nên được chấp nhận
[2.5]. Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể: Buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc còn thiếu là 510.768.825 đồng.
[3]. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm trong vụ án dân sự: 24.430.753 đồng bị đơn phải chịu. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn số tiền đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 50, 55 và 306 của Luật Thương mại năm 2005.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty cổ phần X tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể:
Buộc bị đơn – Công ty cổ phần Đ1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần X số tiền là 510.768.825 (năm trăm mười triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm hai mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm trong vụ án dân sự là: 24.430.753 (hai mươi bốn triệu, bốn trăm ba mươi nghìn, bảy trăm năm ba) đồng Công ty cổ phần Đ1 phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần X số tiền 12.215.377 (mười hai triệu, hai trăm mươi lăm nghìn, ba trăm bảy bảy) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0026225 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Tp .
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Quyền yêu cầu thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa, đổi bổ sung một số Điều năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Tình |
Bản án số 3673/2024/KDTM-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 3673/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
