|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 367/2023/DS-PT Ngày: 11-8-2023 "V/v Tranh chấp hợp đồng vay và bảo lãnh " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tặng.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Bà Kiều Kim Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lê Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 18/4/2023, ngày 02/8/2013 và ngày 11/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay và bảo lãnh”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 114/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 155/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 397/TB-TA ngày 19/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1979.
- Bị đơn:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Tuyết V, sinh năm 1956.
- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Nhật T1 là các bị đơn trong vụ án.
Địa chỉ: Số A, đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của chị L: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1978. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 18/5/2023.
Địa chỉ: Số C, tổ B, N, phường M, thành phố C.
2.1. Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1976.
2.2. Anh Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của chị H, anh T1, bà V: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1983. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 21/7/2022.
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Anh T, anh H1 có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết L, người đại diện của chị L là anh Nguyễn Tấn T trình bày:
Từ ngày 16/8/2021 đến ngày 10/11/2021, chị Nguyễn Thị Tuyết L có cho vợ chồng chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Nhật T1 vay tiền nhiều lần, không nhớ cụ thể. Đến ngày 10/11/2021, hai bên đối chiếu công nợ thì chị H xác nhận đã vay tổng cộng là 1.507.000.000 đồng, có làm lại biên nhận. Khi vay chị H nói dùng tiền để nuôi cá sấu và lo cho con đi du học, hai bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng. Chị H cam kết sẽ gửi kế hoạch trả nợ và cùng anh T1 trả xong trong năm 2022 nhưng đến tháng 5/2022, chị H và anh T1 vẫn chưa thanh toán được khoản nào.
Đến ngày 22/5/2022, chị H và bà Hồ Thị Tuyết V là mẹ ruột của chị H đã làm T2 cam kết sẽ trả số tiền vốn là 1.507.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay chị H cũng chưa có kế hoạch cũng như không trả khoản nào.
Nay chị L yêu cầu vợ chồng chị H, anh T1 và bà V có trách nhiệm liên đới trả số tiền 1.507.000.000 đồng và tiền lãi, mức lãi suất 1,66%/tháng, thời gian tính lãi kể từ ngày 10/11/2021 đến ngày xét xử 21/9/2022 là 10 tháng 11 ngày được số tiền 259.333.800 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 1.766.333.800 đồng.
- Bị đơn chị Nguyễn Ngọc H, người đại diện hợp pháp của chị H là anh Nguyễn Thanh H1 trình bày:
Cá nhân chị H có gặp khó khăn về tài chính, nên có vay tiền của chị L. Lần đầu tiên vay 100.000.000 đồng, trả trong 66 ngày, mỗi ngày trả 2.000.000 đồng. Góp được một thời gian thì chị H không có khả năng góp nữa, nên chị L yêu cầu gộp chung vốn và lãi. Chị H tiếp tục vay số tiền 110.000.000 đồng, mỗi ngày đóng tiền lãi 1.100.000 đồng. Trả tiền lãi được một thời gian ngắn thì chị H không còn khả năng trả nữa nên chị L yêu cầu viết lại biên nhận vốn gộp lãi. Nhiều lần như vậy đến ngày 24/11/2021, số tiền chị H vay chị L là 840.000.000 đồng.
Trong số 840.000.000 đồng còn nợ, thì chị H chỉ tính lãi đối với số tiền 550.000.000 đồng, mỗi tháng trả lãi vào ngày 10 và 24 âm lịch, mỗi lần trả 40.000.000 đồng. Nếu không có tiền trả thì viết lại biên nhận cộng dồn tiền lãi vào nợ cũ.
Ngày 06/5/2022, chị L đến nhà chị H yêu cầu viết biên nhận khác, nội dung nợ số tiền 1.507.000.000 đồng và bắt buộc ghi thêm nội dung “Vợ chồng tôi hứa sẽ trả dần đủ số tiền đã mượn trên dứt điểm trong năm 2022” và buộc ghi ngày trên biên nhận là 10/11/2021.
Chị H xác định đến ngày 24/11/2021 chỉ nợ chị L số tiền 840.000.000 đồng, nên nay chỉ đồng ý trả số tiền 840.000.000 đồng. Đồng thời trong số tiền này đã bao gồm tiền lãi nên nay không đồng ý trả tiền lãi nữa. Việc vay tiền này chị H cũng chỉ vay để tiêu xài cá nhân, không phải là nợ chung của vợ chồng nên nếu phải trả tiền thì chỉ chị H có trách nhiệm trả, không liên quan đến anh T1 và bà V.
- Bị đơn anh, Nguyễn Nhật T1, người đại diện hợp pháp của anh T1 là anh Nguyễn Thanh H1 trình bày:
Anh T1 là chồng của chị H xác định hoàn toàn không biết gì về khoản vay mà chị L khởi kiện. Giữa chị H và anh T1 có kinh tế độc lập, chị H cũng không dùng khoản tiền vay nào để sử dụng chung trong gia đình. Do đó, anh T1 không đồng ý liên đới trả nợ theo yêu cầu của chị L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Tuyết V, người đại diện hợp pháp của bà V là anh Nguyễn Thanh H1 trình bày:
Bà V là mẹ ruột của chị H. Khoảng tháng 5/2022, vợ chồng chị L, anh C đến nhà gặp bà V và báo rằng chị H có nợ một khoản tiền, đồng thời gây áp lực yêu cầu bà V phải hỗ trợ chị H trả nợ vay. Bà V có nói sẽ hỗ trợ chị H trả số tiền gốc theo khả năng của bà V trong thời gian mà gia đình sắp xếp. Nay hoàn cảnh gia đình bà V đang khó khăn, không có khả năng hỗ trợ. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bà V không đồng ý.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 114/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết L.
- Buộc chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Nhật T1 có trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Tuyết L số tiền 1.636.666.900 đồng (Một tỉ sáu trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết L về việc yêu cầu bà Hồ Thị Tuyết V có trách nhiệm liên đới trả nợ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngày 04 tháng 10 năm 2022, chị Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Nhật T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm:
- Chị H đề nghị hủy án sơ thẩm, trường hợp không hủy thì đề nghị sửa án, không buộc anh T1 liên đới, đồng thời xem lại số tiền vì số tiền gốc cộng lãi và hụi.
- Anh T1 đề nghị hủy án sơ thẩm, vì nộp đơn phản tố tòa không thụ lý, nếu không hủy thì đề nghị sửa án không buộc T1 liên đới.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thống nhất theo bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H1 đại diện hợp pháp cho chị Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Nhật T1 vẫn giữ kháng cáo và xác định kháng cáo như sau: Chị H và anh T1 không yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Chị H chỉ đồng ý trả cho chị L số tiền 250.000.000 đồng và lãi. Anh T1 không đồng ý liên đới cùng chị H trả nợ cho chị L.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh, phát biểu việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành tốt quy định của pháp luật và đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận kháng cáo của chị H, anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Tại phiên tòa phúc thẩm chị L trình bày: Từ ngày 16/8/2021 đến ngày 10/11/2021, chị L có cho chị Nguyễn Ngọc H vay 5 lần cụ thể như sau:
- Lần 1: Ngày 16/8/2021 cho chị H 320.000.000 đồng.
- Lần 2: Không nhớ ngày cho chị H vay 50.000.000 đồng.
- Lần 3: Không nhớ ngày cho chị H vay 130.000.000 đồng.
- Lần 4: Không nhớ ngày cho chị H vay 840.000.000 đồng.
- Lần 5: Ngày 10/11/2021 cho chị H vay 167.000.000 đồng.
Tổng cộng là 1.507.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, không có thế chấp tài sản, các lần vay chị H đều có viết biên nhận. Theo chị L, ngày 10/11/2021 chị H viết biên nhận tổng có mượn của chị L số tiền 1.507.000.000 đồng, khi viết biên nhận tổng xong chị L đã trả các biên nhận vay trước đó cho chị H, nên chị L khởi kiện yêu cầu chị H, anh T1 và bà V liên đới trả 1.507.000.000 đồng và lãi.
- [2] Về phía chị H, thừa nhận có vay của chị L nhiều lần, không nhớ ngày, đến ngày 24/11/2021 âl, chị H có viết biên nhận còn nợ chị L 840.00.000 đồng. Ngày 05/5/2022, chị L ép buộc chị H viết biên nhận nợ số tiền 1.507.000.000 đồng và ghi lùi ngày lại là ngày 10/11/2021.
- [3] Án sơ thẩm xử, buộc chị H và anh T1 liên đới trả cho chị L số tiền 1.636.666.900 đồng (vốn 1.507.000.000 đồng, lãi 129.666.900 đồng).
- [4] Chị H và anh T1 không đồng ý có đơn kháng cáo.
- [5] Tại phiên tòa phúc thẩm, ngày 18/4/2023, anh H1 là người đại diện hợp pháp cho chị H thống nhất chị H trả cho chị L số tiền 840.000.000 đồng và lãi theo quy định. Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 02/8/2023, anh H1 người đại diện hợp pháp cho chị H chỉ thống nhất chị H trả cho chị L số tiền 250.000.000 đồng và lãi.
- [6] Xét kháng cáo của chị H không đồng ý trả cho chị L 1.636.666.900 đồng, mà chỉ đồng ý trả cho chị L 250.000.000 đồng và lãi. Xét thấy, về chị H thừa nhận có vay tiền của chị L nhiều lần và biên nhận ngày 10/11/2021 là do chị H viết, ký tên có mượn của chị L 1.507.000.000 đồng và thừa nhận tờ cam kết ngày 22/5/2022, chị H viết cam kết thống nhất còn nợ tiền chị L là 1.507.000.000 đồng.
- [7] Đối với việc chị H cho rằng, số tiền 1.507.000.000 đồng ngày viết biên nhận ngày 05/5/2022, nhưng do chị L ép buộc chị H viết biên nhận và ghi lùi ngày lại ngày 10/11/2021. Chị L không thừa nhận biên nhận của số tiền 1.507.000.000 đồng ghi lùi ngày lại là ngày 10/11/2021. Xét thấy, về biên nhận của số tiền 1.507.000.000 đồng, thì tại tờ tường trình ngày 25/7/2022, chị H trình bày biên nhận được viết khoảng 12 giờ 00, ngày 06/5/2022, chị (L) chạy vào nhà tôi yêu cầu tôi ghi lại một tờ biên nhận khác với lý do để chồng chị L (bác sĩ C) yên tâm làm việc. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/9/2022, anh H1 trình bày biên nhận của số tiền 1.507.000.000 đồng được viết vào khoảng tháng 6 năm 2022. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H1 trình bày biên nhận của số tiền 1.507.000.000 đồng được viết vào ngày 05/5/2022. Lời trình bày của chị H và anh H1 thiếu nhất quán. Về phía anh H1 là người đại diện của chị H có cung cấp các tin nhắn, hình ảnh chụp từ Z, các File ghi âm, nhưng anh H1 cũng thừa nhận các tài liệu tin nhắn, hình ảnh, file ghi âm không có nội dung nào thể hiện là chị L thừa nhận biên nhận của số tiền 1.507.000.000 đồng được ghi lùi ngày lại là ngày 10/11/2021.
- [8] Anh H1 có cung cấp hình ảnh chụp từ zalo, thể hiện biên nhận ngày 24/11/2021 âl, chị L có mượn số tiền 840.000.000 đồng của chị H. Tuy nhiên, toàn bộ chữ viết, chữ ký của biên nhận ngày 24/11/2021 âl là do chị H viết, ký tên, biên nhận ngày 24/11/2021 âl cũng không thể hiện bút tích của chị L thể hiện trên biên nhận. Theo chị L, khi cho chị H vay, chị H có viết biên nhận, đến ngày 10/11/2021 hai bên thỏa thuận thống nhất nợ, nên chị H viết biên nhận tổng còn nợ của chị L số tiền 1.507.000.000 đồng, khi viết biên nhận xong chị L đã trả lại toàn bộ cho chị H các biên nhận trước đó. Về số tiền 840.000.000 đồng, chị L khai là vay của anh P, sau khi nhận tiền của anh P thì chị L đưa lại cho chị H. Theo F (file 3) anh H1 cung cấp, có nội dung anh P trình bày: Số tiền 840.000.000 đồng, anh P đưa cho chị L vào ngày 19/8/2021, chứ không phải ngày 24/11/2021 âl như anh H1 trình bày, nên không đủ căn cứ xác định ngày 24/11/2021 âl, chị L cho chị H vay (mượn) 840.000.000 đồng.
- [9] Như vậy, qua các chứng cứ tin nhắn, hình ảnh chụp từ Zalo, các File ghi âm, mà chị H (anh H1) cung cấp không có cơ sở chứng minh nhằm phủ định lại biên nhận ngày 10/11/2021. Chị H cũng không có chứng cứ chứng minh là chị L ép buộc chị H ghi biên nhận lùi lại ngày, mà việc chị H nợ chị L số tiền 1.507.000.000 đồng được thể hiện tại biên nhận ngày 10/11/2021 và tờ cam kết ngày 22/5/2022.
- [10] Đối với số tiền 1.507.000.000 đồng, chị H cho rằng bao gồm cả tiền vốn và lãi, nhưng chị H cũng không chứng minh được số tiền lãi là bao nhiêu, nên không có căn cứ để xem xét. Trong trường hợp số tiền 1.507.000.000 đồng có một phần tiền lãi đi nữa, nhưng giữa chị H với chị L thỏa thuận tổng kết nợ được thể hiện theo biên nhận tổng ngày 10/11/2021 và tờ cam kết ngày 22/5/2022.
- [11] Với các cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị H.
- [12] Xét kháng cáo của anh T1, không đồng ý liên đới cùng chị H trả nợ cho chị L. Xét thấy, về phía anh T1 mặc dù không trực tiếp vay tiền, không có ký tên vào biên nhận, nhưng theo chị L, khi chị H vay tiền nói sử dụng tiền vay nuôi lo cho con đi du học, nuôi cá sấu. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị H thừa nhận là có cho con đi du học ở Mỹ và nuôi cá sấu, nhưng chị H cho rằng số tiền vay chị H sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân, trả nợ Ngân hàng, trả nợ bên ngoài, còn việc con đi du học là em của chị H bảo lãnh. Anh T1 cho rằng có thu thập riêng từ tiền lương và hùn hạp làm kinh tế. Xét thấy, chị H vay số tiền của chị L tương đối lớn, chị H không chứng minh được việc vay tiền chi tiêu cá nhân, cũng không chứng minh được việc em chị H bảo lãnh việc con chị H đi du học ở Mỹ và anh T1 cũng không chứng minh được thu nhập của mình, đủ điều kiện để lo cho con đi du học và nuôi cá sấu. Đồng thời, theo biên nhận ngày 10/11/2021 có nội dung “Vợ chồng tôi hứa sẽ trả dần đủ số tiền mượn trên dứt điểm trong năm 2022”. Hiện anh T1 và chị H vẫn là vợ chồng, nên anh T1 phải có trách nhiệm liên đới cùng chị H trả nợ cho chị L là phù hợp với quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì thế, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T1.
- [13] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là không chấp nhận kháng cáo của chị H và anh T1 là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [14] Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị H và anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [15] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
- [16] Do kháng cáo của chị H, anh T1 không được chấp nhận, nên chị H và anh T1 phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản1, Điều 148 và khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Nhật T1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 114/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết L.
- Buộc chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Nhật T1 có trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Tuyết L số tiền 1.636.666.900 đồng (Một tỉ sáu trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết L về việc yêu cầu bà Hồ Thị Tuyết V có trách nhiệm liên đới trả nợ.
- Về án phí:
- Chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Nhật T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 61.100.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm nghìn đồng).
- Chị Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.483.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.247.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009398, ngày 20 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị Tuyết L, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 24.764.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).
- Chị H và anh T1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của chị H và anh T1 đã nộp tổng cộng là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0009976, 0009975 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tặng |
Bản án số 367/2023/DS-PT ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay và bảo lãnh
- Số bản án: 367/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay và bảo lãnh
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số A, đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện hợp pháp của chị L: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1978. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 18/5/2023. Địa chỉ: Số C, tổ B, N, phường M, thành phố C. 2. Bị đơn: 2.1. Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1976. 2.2. Anh Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
