Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 367/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Ông Phan Thị Bé.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 357/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 405/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh V; sinh ngày: 15/11/2004 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Không; con ông Võ Thanh S, năm sinh: không rõ (đã chết) và bà Trần Thị Minh C, sinh năm: 1984; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày / /2024, bị xử phạt hành chính số tiền ...theo Quyết định xử phạt hành chính số ..ngày của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/3/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm: 1997, địa chỉ: 1 Đường A, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Hữu P, địa chỉ: Tổ E, P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 25/02/2024, Trần Thanh V đi bộ từ quán Internet “Lộc P1” đường T, phường P, thành phố T trên các tuyến đường thuộc địa bàn phường P, P, thành phố T tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 26/02/2024, khi đi đến phòng trọ địa chỉ số A đường A, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, V phát hiện phía ngoài dãy nhà trọ không có cửa cổng, không có người trông giữ nên vào trong dãy nhà trọ lén lút chiếm đoạt xe mô tô Honda Blade (wave), màu đen, biển số 60B3 -399.00 của anh Nguyễn Đức T đang để ở phía trong cùng (không khóa cổ xe). V dẫn ra hướng ngoài đường rồi dắt xe đi bộ (xe không có chìa khóa) đến Khu dân cư T, đường số C, khu phố D, phường P, thành phố T. Khoảng 7 giờ cùng ngày, V ngồi ở ghế đá nhà dân thì thấy có người đàn ông (không rõ lai lịch) chạy xe lôi tự chế đi mua ve chai chạy ngang, V hỏi người đàn ông “có mua xe máy không” thì người đàn ông xem xe mô tô của V vừa trộm cắp được và đồng ý mua. Khi mua xe người đàn ông hỏi “xe này xe ở đâu” thì V trả lời là “xe của V bị mất chìa khóa”, người đàn ông trả giá nếu xe có giấy thì 2.000.000 đồng, không có giấy thì 800.000 đồng”, V trả lời “xe không có giấy tờ”, người đàn ông trả cho V 800.000 đồng. Vĩ phụ người đàn ông đưa xe mô tô lên thùng xe lôi. Sau khi bán xe mô tô, V đi đến một quán cơm ở đường T, phường P vào ăn cơm rồi đến khách sạn (không nhớ tên) thuê phòng ngủ và tiêu xài hết số tiền bán xe. Khoảng 17 giờ ngày 08/3/2024, V đang ngủ ở Miếu B, thuộc khu phố E, phường T, thành phố T thì bị bảo vệ dân phố vào kiểm tra đưa về trụ sở giao Công an phường P, thành phố T lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Thanh V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.

Quá trình điều tra được biết trước đó vào ngày 13/12/2023, V có hành vi lén lút trộm cắp xe Genzo biển số: 77H7-6629 của anh Phạm Quốc T1 tại trước số D phường T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản qua định giá 1.550.000 đồng. Ngày 20/4/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố T ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên theo khoản 8, Điều 157 BLTTHS....đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Thanh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá số 26-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 11/03/2024 kết luận 01 xe mô tô biển số 60B3-399.00, hiệu Honda Blade, màu đen, số khung: 3602EY111412, số máy: JA36E0199781 có giá trị 8.633.000 đồng. (Bút lục 18).

Vật chứng vụ án:

  • 01 USB màu bạc, hiệu Kingston 2GB chứa đoạn video ghi lại từ camera hình ảnh bị cáo V thực hiện hành vi chiếm đoạt xe của anh T.
  • 01 xe mô tô Honda Blade biển số 60B3-399.00 (không thu hồi được).

Xác minh xe ngày 24/6/2024 chủ sở hữu là Hoàng Hữu P, địa chỉ tổ E, Phú Hợp A, P, T, tỉnh Đồng Nai. Qua làm việc anh P cho biết năm 2020 đã bán xe mô tô trên cho một thanh niên không rõ lai lịch với giá 9.000.000 đồng ở ngã tư B không lập giấy mua bán mà chỉ giao xe và giấy tờ xe. Ghi lời khai anh Nguyễn Đức T được biết xe mô tô biển số 60B3-399.00 anh T mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2020 với giá 10.000.000 đồng bằng hình thức viết tay, không làm thủ tục sang tên.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức T không có yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 344/CT-VKSTPTĐ ngày 01/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Thanh V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Thanh V từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về tích nhiệm ân sự: Bị hại Nguyễn Đức T không yêu cầu bồi thường nên không xem xét; Bị co phảïn phí hình sự sơ thẩm theo quy ịnh của phíp luật; Vật chứng vụn: 01 xe mơ tơ biển số 60B3-399.00 không thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành đăng báo tìm vật chứng của vụ án nhưng chưa có kết quả, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau; bị co phải chịến phí theo quy ịnh.
  • Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người cĩ quyền, nghĩa vụ lăn quan vắng mặt tại phũn tịa. Ắt việc vắng mặt của bị hại, người cĩ quyền, nghĩa vụ lăn quan vắng mặt khơng ảnh hưởng ến việc giải quyết vấn ề quyền lợi của họ ăn Tịấn vẫn tiến lình mở phin vắng mặt bị hại, người cĩ quyền, nghĩa vụ lăn quan theo quy ịnh tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Trần Thanh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 08/3/2024; Kết luận định giá tài sản; Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh V phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, tại phòng trọ số A đường A, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh V lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda Blade (wave), màu đen, biển số 60B3 -399.00; số máy: JA36E0199781; số khung: 3602EY111412 của anh Nguyễn Đức T, xe có giá trị 8.633.000 đồng. Hành vi trên của Trần Thanh V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với Trần Thanh V là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn rất trẻ, có sức khỏe, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Trước khi thực hiện bình vi phạm tội lần ôny, bị co cũng bị xử phạt lồình chính về hình vi trộm cắp ti sản nhưng bị ối khơng lấy ĩ lm ồi học sửa sai mì nay lại tiếp tục thực hiện hình vi phạm tội. Điều ĩ, thể hiện î thức chấp linh phíp luật của bị ối rất ắm. Hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo Trần Thanh V thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy ịnh tại iểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ể xem ắt giảm cho bị có một phần tích nhiệm hình sự mì lẽ ra bị ếo phải chịu.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[5] Vật chứng vụ án:

  • 01 xe mơ tơ biển số 49D1-366.70 không thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định truy tìm vật số 175/QĐ-TT-ĐCSHS ngày 15/3/2024 (bút lục 70) đối với xe trên nhưng vẫn chưa có kết quả, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau.
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 USB màu bạc hiệu Kington 2GB và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 60B3-399.00, hiệu Honda Blade, màu đen, số khung: 3602EY111412, số máy: JA36E0199781, đứng tên Hoàng Hữu P.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức T không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét (bút lục 72).

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Trần Thanh V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.

  3. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 147 của Bộ luật tố tụng ân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 nầy 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

    Buộc bị cáo Trần Thanh V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

    Lưu hồ sơ vụ án 01 USB màu bạc hiệu Kington 2GB và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 60B3-399.00, hiệu Honda Blade, màu đen, số khung: 3602EY111412, số máy: JA36E0199781, đứng tên Hoàng Hữu P.

  5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 367/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 367/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger