|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 367/2024/HS-ST Ngày: 18-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NΑΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thiều Thị Phi Loan;
2. Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 345/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2024/QĐXXST-HS, ngày 28/6/2024 đối với:
Bị cáo: Lâm Minh H, sinh năm 1998 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Xù. Nơi đăng ký thường trú: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 01/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lâm Minh H1, sinh năm 1960 và bà Trần Kim H2, sinh năm 1964 (đã chết). Bị cáo có vợ tên Châu Thị Thùy T, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, giam giữ từ ngày 28/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Nhà trọ Cô Ba, số A, tổ A, khu P, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/02/2024, Võ Văn N, sinh năm 1987, thường trú 586, tổ A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô biển số 69H1-268.33 chở Lâm Minh H đến khu vực gò đá tổ G, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để câu cá. Khi đến nơi thì N thấy bên đường có dựng 01 chiếc xe mô tô biển số 71C3-341.56, nhãn hiệu Yamaha Sirius của anh Nguyễn Hoàng L không người trông coi nên đã bàn với H lấy trộm chiếc xe trên thì Hiệp đồng ý. H đi đến xe mô tô biển số 71C3-341.56 rồi dùng 01 tua vít đầu dẹp và 01 kìm bằng kim loại để bẻ khóa cổ xe. Tuy nhiên xe không khởi động được, nên H leo lên xe mô tô biển số 71C3-341.56, Nam điều khiển xe mô tô biển số 69H1-268.33 dùng chân đẩy H và xe mô tô biển số 71C3-341.56 từ phía sau. N và H đẩy đến tiệm S, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để sửa khóa xe thì gặp chị Nguyễn Thị Tiên N1, sinh năm 1998, địa chỉ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. H gửi xe lại cho chị N1 để sửa rồi N chở H về nhà. Đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, H biết được Công an phường T đang truy tìm nên đến đầu thú, Công an thu hồi chiếc xe mô tô biển số 71C3-341.56, kiểm tra bên trong cốp xe có chứa các tài sản: 01 điện thoại di động Oppo F11, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có dính đá màu đỏ, kích thước rộng 01 cm, dài khoảng 2,8 cm, tiền mặt 1.200.000 đồng, số tài sản này của anh Nguyễn Hoàng L. Tại Cơ quan điều tra H đã khi nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên..
Vật chứng của vụ án:
- - 01 Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS: 71C-341.56, màu đem-xám, đã qua sử dụng; 01 nhẫn vàng 610 (vàng 14k) có đính đá màu đỏ, có tổng trọng lượng 03 chỉ, dài 2,8 cm, có 26 viên đá nhỏ màu trắng xung quanh, đã qua sử dụng; Số tiền 1.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng L; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thu N2; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 71C3-341.56 mang tên Nguyễn Hoàng L, là tài sản của Nguyễn Hoàng L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho anh L.
- - 01 USB hiệu Picom-16GB, màu vàng chứa video ghi lại sự việc.
Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 xe mô tô, gắm máy biển số 71C-341.56 đã qua sử dụng giá trị 8.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 64Gb đã qua sử dụng 690.000 đồng; 01 nhẫn vàng 14k đã qua sử dụng giá trị 8.294.406 đồng; Tổng giá trị tài sản 16.984.406 đồng.
Về dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoàng L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số 354/CT-VKSBH, ngày 13/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Lâm Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 10 đến 14 tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/02/2024 tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lâm Minh H đã có hành vi trộm cắp tài sản gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS 71C3-341.56, bên trong xe có 01 nhẫn (vàng 14k) có đính 01 viên đá màu đỏ, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11, 1.200.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản là 18.184.406 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội với cơ quan công an, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Vật chứng của vụ án:
- - 01 Xe mô tô hiệu Y BKS: 71C-341.56; 01 nhẫn vàng 610 (vàng 14k) có đính đá màu đỏ, có tổng trọng lượng 03 chỉ, dài 2,8 cm, có 26 viên đá nhỏ màu trắng xung quanh, đã qua sử dụng; số tiền 1.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng L; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thu N2; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 71C3-341.56 mang tên Nguyễn Hoàng L, là tài sản của anh Nguyễn Hoàng L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho anh L là phù hợp quy định pháp luật.
- - 01 USB hiệu Picom-16GB, màu vàng chứa video ghi lại sự việc, lưu theo hồ sơ vụ án.
[6] Những vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với hành vi của Võ Văn N là đối tượng cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Lâm Minh H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lại lịch, chưa làm việc được với đối tượng nên tiếp tục xác minh xử lý sau.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp.
[8] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lâm Minh H 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày giam giữ 28/02/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lâm Minh H phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Kim Chi Phan Anh Dũng |
Trịnh Viết Dược |
Bản án số 367/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 367/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
