Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 367/2024/DS-PT

Ngày: 29 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,

hợp đồng cầm cố đất, hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 889/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS –ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 652/2024/QĐPT-DS ngày 10/5/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1. Ông Nhan Văn T, sinh năm 1942; (có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1952; (có mặt)

Cùng cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ

Địa chỉ liên hệ: Số C đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: 1. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1944; (vắng mặt)

2. Bà Nhan Thị M, sinh năm 1954 (vắng mặt)

Cùng cư trú: Ấp T, TT.Thới Lai, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1983. (có mặt)

Cư trú: Ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nhan Văn H1 (chết)

Người kế thừa tố tụng của ông H1:

- Bà Nguyễn Thị P (chết)

- Bà Nhan Thị C, sinh năm 1966; (vắng mặt)

- Ông Nhan Văn T1, sinh năm 1969; (vắng mặt)

- Bà Nhan Thị T2, sinh năm 1970; (vắng mặt)

- Bà Nhan Thị H2; (vắng mặt)

- Ông Nhan Văn T3; (vắng mặt)

Cùng cư trú Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

2/ Ông Nhan Văn G (chết)

Người kế thừa tố tụng của ông G:

- Bà Nhan Thị Bích T4; (vắng mặt)

- Ông Nhan Văn T5, sinh năm 1968; (vắng mặt)

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Nhan Văn T6 (chết)

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

4/ Bà Nhan Thị C1, sinh năm 1948 (vắng mặt)

Cư trú: Ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ.

4/ Bà Nhan Thị M, sinh năm 1954; (vắng mặt)

Cư trú: Ấp T, TT. T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị M1: Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1983. (có mặt)

Cư trú: Ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ

5/ Bà Nhan Thị T7, sinh năm 1956; (có mặt)

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

6/ Ông Nhan Văn Ú (Ú), sinh năm 1960; (vắng mặt)

Cư trú: Ấp T, TT. T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

7/ Ông Nhan Văn Ú, sinh năm 1962; (có mặt)

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

8/ Ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1973; (vắng mặt)

Cư trú: Ấp T, TT. T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

9/ Ông Huỳnh Thanh T9, sinh năm 1975; (có mặt)

10/ Bà Nguyễn Thị Hồng H3, sinh năm 1976; (có mặt)

Cùng cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

11/ Ông Huỳnh Nhật H4, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ

12/ Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1983; (có mặt)

Cư trú: Ấp T, TT. T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

13/ Ông Nguyễn Phước V, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

14/ Ngân hàng TMCP X;

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh T10 (có mặt)

15/ Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tấn T11 – Chức vụ: Trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện T. (đơn xin xét xử vắng mặt)

Người kháng cáo: ông Huỳnh Thanh H – đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Cụ Nhan Văn H5 và cụ Trần Thị T12 có một phần đất diện tích khoảng 08 công đất tầm 03m (01 công tầm lớn = 1.296m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vào năm 1975, vợ chồng ông bà ra ở riêng được cha mẹ là cụ H5 và cụ T12 cho vợ chồng ông bà 3,5 công đất ruộng tầm 03m và 01 công đất ruộng tầm 03m ở nơi khác (không nằm liền kề nhau), khi cho thì chỉ nói miệng là cho và vợ chồng ông bà canh tác chứ không lập giấy tờ cho; phần diện tích đất 3,5 công đất ruộng là nằm chung một thửa đất với phần diện tích khoảng 3,5 công đất ruộng tầm 3m của cụ Nhan Văn H5 đang cho thuê mướn. Khoảng năm 1990, cụ H5 lấy lại phần diện tích đất 01 công nêu trên và đổi lại cho ông bà 01 công đất vườn nằm liền kề với phần diện tích đất 3,5 công đất ruộng tầm 3m mà trước đó cụ H5 đã cho. Sau khi cụ H5 chết năm 2002 thì bà Nhan Thị M lấy phần đất 3,5 công đất ruộng của cụ H5 cho thuê mướn trước đó để cầm cố cho vợ chồng ông bà. Bà L trực tiếp nhận cầm cố phần diện tích đất nêu trên với diện tích 3,5 công đất ruộng tầm 03m với số vàng 20 chỉ vàng 24k (có giấy cầm cố); vợ chồng ông bà canh tác đến năm 2009 thì cầm cố lại cho ông Nguyễn Văn T8 với tổng diện tích là hơn 07 công đất ruộng tầm 03m (bao gồm phần diện tích đất cho cụ H5 cho ông bà và phần diện tích đất cho vợ chồng và Nhan Thị M) với giá 60 chỉ vàng 24k và ông bà tiếp tục đưa cho vợ chồng bà Nhan Thị M, ông Huỳnh Văn Đ thêm 20 chỉ vàng 24k. Tổng cộng, ông bà đưa cho bà M 40 chỉ vàng 24k (loại vàng nữ trang 98%).

Vào khoảng năm 2012, bà Nhan Thị M yêu cầu chuyển nhượng hết toàn bộ phần diện tích đất của ông bà và phần đất ông bà nhận cầm cố của bà M, ông Đ nên ông bà không đồng ý và yêu cầu ông Đ, bà M chia đôi phần diện tích đất này mỗi người 3,5 công đất ruộng tầm 3m, lúc này ông bà mới biết ông Huỳnh Văn Đ đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 237 và thửa 238, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Đến năm 2014, ông bà mới biết phần diện tích đất 3,5 công đất ruộng tầm 3m ông bà đang canh tác và phần diện tích đất bờ cụ Nhan Văn H5 đã lập di chúc cho ông vào năm 1998.

Nay ông bà khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M trả lại cho ông bà toàn bộ phần diện tích đất 1.894m² tại thửa đất số 237 và 4.634m² đất tại thửa 238 (phần giáp ranh thửa đất số 237) cùng tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ và trả lại cho ông bà 40 chỉ vàng 24k đã cố đất. Buộc ông Huỳnh Thanh T9 phải di dời nhà đã cất trên phần đất tại thửa 237 trả đất lại cho ông. Ông không đồng ý bồi thường tiền di dời.

Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M trình bày: Trước đây phần diện tích đất đang tranh chấp là của cha ông bà tên Nhan Văn H5, sau đó cụ H5 cho lại ông bà toàn bộ diện tích đất khoảng 08 công đất ruộng tầm 03m. Vào năm 1991, chính quyền địa phương đến đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 1995, ông Huỳnh Văn Đ đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Huỳnh Văn Đ gồm thửa đất số 237 với diện tích 1.894m² và thửa đất 238 với diện tích 9.911m² cùng tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến khoảng năm 1998 thì ông bà cố cho ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L toàn bộ diện tích đất với số vàng là 20 chỉ vàng 24k. Sau đó, bà L và ông T yêu cầu chuộc lại đất nên bà M cố phần diện tích đất này cho ông Nguyễn Văn T8 với số vàng là 60 chỉ vàng 24k và trả lại cho ông T, bà L 20 chỉ vàng 24k và cho ông T, bà L mượn 20 chỉ vàng 24k. Khi cố đất cho ông T8 có ông T ký tên vào tờ cố đất, đồng thời ông T cũng nhận nợ 20 chỉ vàng 24k. Nay ông bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông bà trả lại 1.894m² đất tại thửa đất số 237 và 4.643m² đất tại thửa 238 nêu trên, đồng thời ông bà cũng có đơn phản tố yêu cầu ông T, bà L trả lại cho ông bà 20 chỉ vàng 24k đã mượn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Ông Huỳnh Thanh H trình bày: Vào ngày 30/10/1995 ông Huỳnh Văn Đ được Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 237, 238, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vào ngày 10/10/2014 ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng thương mại cổ phần X Chi nhánh C2 để đảm bảo khoản nợ vày theo hợp đồng tín dụng số 08.511.14/HĐTD/PGB-CT ngày 10/10/2014 giữa ông với Ngân hàng và từ khi vay cho đến nay thì ông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Ngân hàng. Trong trường hợp giải quyết tranh chấp trả lại đất cho phía nguyên đơn thì ông đồng ý trả hết khoản nợ đã vay cho phía Ngân hàng để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đ đã thế chấp để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Ông Huỳnh Thanh T9 trình bày: Tài sản là quyền sử dụng đất tranh chấp giữa ông T, bà L với ông Đ, bà M thuộc thửa đất số 237 và 238 là của cha ông là ông Huỳnh Văn Đ. Vào năm 2012, ông Đ có cho ông xây dựng nhà, chuồng heo và trồng cây trên thửa đất số 237, ngoài ra ông còn khoan 02 cây nước tại thửa đất số 237 với số tiền là 4.500.000 đồng. Hiện nay, phần đất ông đang sử dụng xảy ra tranh chấp giữa ông T, bà L với ông Đ, bà M thì ông yêu cầu được ổn định sử dụng.

- Bà Nguyễn Thị Hồng H3 trình bày: Bà là vợ của ông Huỳnh Thanh T9, bà thống nhất với lời trình bày của ông T9. Đề nghị Tòa án giải quyết công nhận phần đất tranh chấp là của cha mẹ chồng bà là ông Đ và bà M.

- Đại diện Ủy ban nhân dân huyện T trình bày: Vào ngày 31/7/2014, Ủy ban nhân dân huyện T đã có công văn số 534/UBND-TTr về việc kết quả thẩm tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đ, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Năm 1995, Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn Đ đứng tên về trình tự thủ tục, diện tích, đối tượng được cấp là đúng theo quy định của pháp luật. Nếu ông Nhan Văn T có yêu cầu tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Huỳnh Văn Đ đứng tên thì làm thủ tục theo quy định của pháp luật hoặc có tranh chấp thì do Tòa án thụ lý giải quyết.

Hiện nay, giữa ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L với ông Huỳnh Văn Đ, bà Nhan Thị M phát sinh tranh chấp do Tòa án thụ lý giải quyết. Việc Tòa án giải quyết có hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Huỳnh Văn Đ thì Ủy ban nhân dân huyện T không có ý kiến. Ngày 24/11/2020 Ủy ban nhân dân huyện T có công văn số 3170/UBND-TNMT về việc bảo lưu ý kiến tại công văn số 534/UBND-TTr ngày 31/7/2014 về kết quả thẩm tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đ. Đại diện Ủy ban nhân dân huyện T đề nghị được vắng mặt trong các buổi làm việc và các phiên xét xử của Tòa án các cấp.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là Ngân hàng Thương mại cổ phần X – đại diện ủy quyền là ông Tô Thanh H6 trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần X có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Huỳnh Thanh H thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn lại của Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 08.511.14/HĐTD/PGB-CT ngày 10/10/2014 cho Ngân hàng, tạm tính đến ngày 18/5/2023 là 235.365.977 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 141.034.116 đồng, nợ lãi là 105.622.479 đồng. Thời hạn thanh toán ngay sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày của bản án sơ thẩm cho đến khi ông H thanh toán toàn bộ khoản nợ tại Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo. Trường hợp ông H chậm trả lãi thì phải chịu lãi chậm trả trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo; Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Huỳnh Thanh H không thanh toán đủ số nợ nêu trên cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên cho phép Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng là: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 237, 238, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, diện tích 11.805m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm (LNK) 1.894m², đất trồng lúa (2L) 9.911m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô G228820 do UBND huyện Ô (nay là huyện T) cấp ngày 30/10/1995. Toàn bộ các tài sản gắn liền với đất đã, đang hoặc sẽ hình thành, phần giá trị công trình, diện tích cải tạo đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích đất đã thế chấp; Toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất cũng đều thuộc tài sản thế chấp. Trường hợp sau khi xử lý các tài sản bảo đảm nêu trên không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án của ông H để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

- Ông Nguyễn Văn T8 trình bày: Vào năm 2009 ông có nhận cầm cố quyền sử dụng đất 07 công ruộng tầm 03m (gồm toàn bộ thửa đất số 237 và thửa đất 238) của ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L với số vàng là 60 chỉ vàng 24k, thời hạn cố đất là 03 năm. Đến năm 2011 ông có đưa thêm cho ông Nhan Văn T 10 chỉ vàng 24k và ông T8 là người canh tác trên phần đất này. Đến ngày 13/11/2019, ông cho vợ chồng ông T, bà L chuộc lại phần đất đã cố nêu trên và nhận đủ 70 chỉ vàng 24k, có người làm chứng là bà Nguyễn Kim E và bà Nguyễn Huỳnh N. Hiện nay, phần đất trên do vợ chồng ông T và bà L quản lý sử dụng. Đối với việc tranh chấp giữa ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L với ông Huỳnh Văn Đ, bà Nhan Thị M thì ông không có ý kiến. Ông T8 xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

- Bà Nhan Thị C1 trình bày: Bà C1 đề nghị Tòa án thực hiện theo di chúc của cha bà là cụ Nhan Văn H5, còn đất đai của cha mẹ bà thì bà không yêu cầu được hưởng tài sản nên không tranh chấp trong vụ án này. Bà C1 đã từ chối hưởng di sản của cha mẹ và do có nhiều bệnh đi lại khó khăn nên bà từ chối tham gia tố tụng ở các cấp Tòa án.

- Ông Nhan Văn Ú (sinh năm 1960) trình bày: Phần đất tranh chấp do cha mẹ ông để lại, ông không yêu cầu chia tài sản của cha mẹ vì các anh chị em đã tự phân chia theo di chúc và sống ổn định từ trước đến nay, không có tranh chấp, chỉ có ông T và bà M tranh chấp việc cố đất và số tiền cố đất với nhau. Ông không yêu cầu Tòa án phân chia di sản do cha mẹ ông để lại. Ông Ú xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

- Ông Nhan Văn Ú (sinh năm 1962) trình bày: Nguồn gốc hai thửa đất đang tranh chấp là do ông nội ông khai phá. Sau đó, ông nội ông giao lại cho cha ông là cụ Nhan Văn H5 canh tác đến năm 1975. Sau năm 1975, cha ông chia đất lại cho các con toàn bộ số đất trong tờ di chúc đã để lại tổng diện tích là 11.805m², trong tờ di chúc có chia cho ông T và bà M, cụ thể chia cho ông T là 3,5 công đất ruộng và 01 công đất thổ cư, chia cho bà M là 3,5 công đất ruộng tầm 03m. Các anh chị em ông đã tự phân chia đất theo di chúc và sống ổn định, không có tranh chấp. Việc tranh chấp giữa ông T và bà M là do cầm cố, không phải tranh chấp về quyền sử dụng đất. Ông Ú có đơn yêu cầu Tòa án không phân chia tài sản của cụ Nhan Văn H5 và cụ Trần Thị T12 và xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

- Bà Nhan Thị T7 trình bày: Đất tranh chấp là của cha mẹ bà để lại cho các anh chị em bà. Cha mẹ bà đã phân chia rõ ràng trong di chúc, phần của ai thì người đó hưởng. Việc tranh chấp giữa ông T và bà M là do cầm cố, không phải tranh chấp về quyền sử dụng đất. Bà T7 có đơn yêu cầu Tòa án không nhận phân chia tài sản của cụ Nhan Văn H5 và cụ Trần Thị T12 và xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

- Bà Nhan Thị T2, bà Nhan Thị C thống nhất trình bày: Các ông bà là con của ông Nhan Văn H1 và là cháu nội của cụ Nhan Văn H5, cụ Trần Thị Tư . Khi cụ H5, cụ T12 mất có để lại di chúc, gia đình đã tự đã tự phân chia đất theo di chúc và sống ổn định, không có tranh chấp. Việc tranh chấp giữa ông T và bà M là do cầm cố, không phải tranh chấp về quyền sử dụng đất.

- Ông Nhan Văn T5 trình bày: Đất của ông bà nội ông là cụ H5 và cụ T12 đã được phân chia, ai cũng sinh sống ổn định không có tranh chấp. Phần của ông cũng đã ổn định nên ông không yêu cầu chia thừa kế và cũng không liên quan gì đến tranh chấp giữa ông T, bà L với bà M, ông Đ. Ông T5 yêu cầu được miễn tham gia tố tụng.

- Ông Nhan Văn T1 trình bày: Ông không yêu cầu chia di sản của ông bà nội ông là cụ H5 và cụ T12 vì ai cũng được chia đất và sống ổn định, có người đã được cấp giấy và không có tranh chấp gì. Việc tranh chấp giữa ông T, bà L với bà M, ông Đ không liên quan đến ông và ông từ chối tham gia tố tụng.

- Ông Nguyễn Phước V trình bày: Vào khoảng năm 2009, sau khi ông Nguyễn Văn T8 nhận cầm cố quyền sử dụng đất tại thửa đất số 237 và 238 thuộc tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ thì ông T8 cho ông thuê lại toàn bộ diện tích đất nhận cầm cố (khoảng 07 công đất ruộng tầm 3m). Nay ông có ý kiến, khi nào ông T8 lấy lại phần đất cho thuê thì giữa ông với ông T8 tự kết thúc hợp đồng (thỏa thuận) thuê ông không có yêu cầu gì. Đối với việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại phần đất ông đang thuê thì ông không có ý kiến. Ông V có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố.

Ngân hàng TMCP X vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS –ST ngày 22/5/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Áp dụng: Điều 127, Điều 256, Điều 258, Điều 688 Bộ luật tốt tụng dân sự năm 2005; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993, Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L đối với các bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M, cụ thể như sau:

Buộc ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M có trách nhiệm tách quyền sử dụng đất cho ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L phần đất có diện tích 1.894m² (qua đo đạc thực tế là 1.703,6m²) tại thửa đất số 237 và 4.643m² (qua đo đạc thực tế là 5.128,m²) tại thửa đất số 238, tờ bản đồ số 7, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 003135 do Ủy ban nhân dân huyện Ô, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp cho ông Huỳnh Văn Đ ngày 30/10/1995. Đất hiện tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (kèm theo Bản trích đo địa chính ngày 12/4/2019 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

Ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Huỳnh Văn Đ có trách nhiệm tách 106m² đất tại thửa 237 (phần nhà và phần sân) cho ông Huỳnh Thanh T9 (kèm theo Bản trích đo địa chính ngày 12/4/2019 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh C2 (phần đất đang tranh chấp) trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đ và phần đất 106m² (phần nhà của ông Huỳnh Thanh T9). Phần còn lại của thửa 238 là của ông Huỳnh Văn Đ.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ tách quyền sử dụng đất của ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Thanh T9 như đã nêu trên và phần còn lại của ông Huỳnh Văn Đ theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M về việc đòi quyền sử dụng đất và cầm cố quyền sử dụng đất đối với ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L và yêu cầu của bị đơn đòi nguyên đơn trả 20 chỉ vàng 24K.

Buộc ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M có trách nhiệm trả cho ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L 40 (bốn mươi) chỉ vàng 24K (loại 98%), lãi vàng không tính trong giai đoạn thi hành án.

Ông Huỳnh Thanh T9 có trách nhiệm hoàn lại cho ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 10.020.000 đồng (mười triệu không trăm hai mươi ngàn đồng). Ông T và bà L có trách nhiệm bồi thường cho ông T9 phần giá trị chuồng heo là 11.396.000 đồng (mười một triệu, ba trăm chín mươi sáu ngàn đồng) và phần giá trị cây trồng là 1.750.000 đồng (một triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh C2 đối với ông Huỳnh Thanh H. Buộc ông H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh C2 theo Hợp đồng tín dụng ngày 10/10/2014 số tiền 235.365.917 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi lăm ngàn, chín trăm mười bảy đồng).

Kể từ ngày ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Thanh T9 và Ngân hàng TMCP X có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thực hiện nghĩa vụ chưa thi hành xong còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn án phí cho ông Nhan Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M vì là người cao tuổi.

Ông Huỳnh Thanh T9 phải chịu 501.000 đồng (năm trăm lẻ một ngàn đồng), ông Huỳnh Thanh H phải chịu 11.768.295 đồng (mười một triệu, bảy trăm sáu mươi tám ngàn, hai trăm chín mươi lăm ngàn đồng).

Ông Nhan Văn T được nhận lại 7.282.000 đồng (bảy triệu hai trăm tám mươi hai ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 006384 ngày 08/7/2015; Ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M được nhận lại 1.825.000 đồng (một triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 001366 ngày 11/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Ngân hàng TMCP X được nhận lại 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ theo biên lai thu số 0000011 ngày 07/10/2021.

Ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M mỗi người được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên thu số 001773 và 001774 cùng ngày 14/11/2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Các bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và bà Nhan Thị M phải chịu chi phí thẩm định và định giá như sau:

Chi phí định giá lần 01 do Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thu là 5.000.000 (năm triệu đồng). Ông T, bà L đã nộp và chi xong nên ông Đ, bà M có trách nhiệm trả lại cho ông T, bà L số tiền này;

Chi phí thẩm định lần 02 do Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ thu là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Ông T, bà L đã nộp và chi xong nên ông Đ, bà M có trách nhiệm trả lại cho ông T, bà L số tiền này.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23/5/2023, ông Huỳnh Thanh H đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác tuyên bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 237 và thửa đất 238 cho gia đình nhà ông.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

-Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; nghe các đương sự trình bày và tranh luận; ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Thanh H nộp trong hạn luật định, về hình thức được xem là hợp lệ nên đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
    2. Sau khi xét xử sơ thẩm các nguyên đơn ông Nhan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L cũng như những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo. Các đương sự khác vắng mặt mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần 3.
    3. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đương sự trong vụ án và thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
  2. Xét diễn biến quá trình giải quyết vụ án:
    1. Theo nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Nhan Văn H5 và cụ Trần Thị T12 (là cha mẹ của ông Nhan Văn T và bà Nhan Thị M). Trước khi chết cụ Nhan Văn H5 có lập di chúc chia đất cho các con. Bản thân bà C1, bà T7, ông Ú (sinh năm 1960) và ông Ú (sinh năm 1962) đều thống nhất và chấp nhận theo sự phân chia theo di chúc của cụ H5. Các ông bà đều khẳng định việc ông T được cha cho phần đất mà ông T đang tranh chấp với ông Đ, bà M. Nguyên đơn ông Nhan Văn T xác định bản thân đã sử dụng phần đất tranh chấp từ trước năm 1975. Ông Nguyễn Văn T8 cũng xác nhận ông có nhận cố toàn bộ số đất (cả phần đất ông T đang tranh chấp với bà M và phần đất của ông H5, bà M) với giá là 70 chỉ vàng. Hiện tại, ông T đã chuộc lại đất từ ông T8. Như vậy, có căn cứ phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 1.703,6m² tại thửa đất số 237 và 5.128,m² là một phần thửa đất số 238 do ông Huỳnh Văn H7 đúng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/10/1995 trước khi cố cho ông T8 là do ông T sử dụng và đúng với vị trí mà cha ông Tác để lại di chúc cho ông và phù hợp với lời trình bày của các anh chị em của ông T, bà M.
    2. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đất tranh chấp là phần thừa kế của cụ H7 và cụ T12 cho ông Nhan Văn T là phù hợp, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

    3. Xét nội dung kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Thanh H:
      1. Ông Huỳnh Thanh Đ1 xác nhận diện tích đất đang tranh chấp thuộc nguồn gốc của cha ông là Nhan Văn H5. Sau đó cụ H5 cho lại ông bà toàn bộ diện tích đất khoảng 08 công đất ruộng tầm 03m. Đến năm 1995, ông Huỳnh Văn Đ đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Huỳnh Văn Đ gồm thửa đất số 237 với diện tích 1.894m² và thửa đất 238 với diện tích 9.911m² cùng tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ
      2. Năm 1995, ông Huỳnh Văn Đ đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/10/2015. Căn cứ vào Đơn xin Đăng ký quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đ ngày 25/10/1945, ông Huỳnh Văn Đ kê khai “đất cha mẹ cho”. Tuy nhiên, thời điểm năm 1995, cụ H5 và cụ T12 đều còn sống, bị đơn đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả phần đất nguyên đơn tranh chấp mà không có văn bản nào cho thấy các cụ tặng cho phần đất tranh chấp cho bị đơn. Như vậy, ở thời điểm bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất trên vẫn thuộc quyền sử dụng của cha mẹ các đương sự. Di chúc của cụ H5 lập năm 1998 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, các con của cụ H5 và cụ T12 đều thực hiện theo di chúc.
      3. Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm cả phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T cho ông Đ là không đúng quy định của pháp luật tại Điều 2 Luật Đất đai năm 1993. Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Huỳnh Văn Đ để tách phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T để giao quyền sử dụng cho ông T là đúng quy định.
    4. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy bản án sơ thẩm xét xử có căn cứ pháp luật, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình nên giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
  3. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.
  4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn được ông Huỳnh Thanh H là người đại diện theo ủy quyền. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS -ST ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản".
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn.
  3. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND Tp Cần Thơ;
  • - VKSND Tp Cần Thơ;
  • - Cục THADS Tp Cần Thơ;
  • - ĐS (18);
  • - Lưu VP(3), HS(2). 35b.TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trí Tuấn

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hồ Thị Thanh ThúyPhan Tô NgọcPhạm Trí Tuấn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 367/2024/DS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố đất, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 367/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố đất, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nhan Văn T kiện Ông Huỳnh Văn Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn được ông Huỳnh Thanh H là người đại diện theo ủy quyền. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS –ST ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger