|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 367/2024/DS-PT Ngày: 08 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Cường.
Các Thẩm phán:
- Bà Dương Thúy Hằng;
- Bà Võ Thị Hồng Mai.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 199/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST, ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 296/2024/QĐ-PT, ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Phạm Thành B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số B, hẻm C, đường L, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông B: anh Phạm Thanh T, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh. (theo văn bản uỷ quyền ngày 07/4/2023). Có mặt.
- * Bị đơn: Bà Đặng Kim H, sinh năm 1956; địa chỉ: Số C, hẻm C, đường L, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn – ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1950; Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (theo văn bản uỷ quyền ngày 02/02/2024). Có mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Phạm Thị Kiều O, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố H, phường H, Thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin vắng mặt.
- - Chị Phạm Thị Kiều Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố H, phường H, Thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin vắng mặt.
- - Anh Phạm Thanh P, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu phố C, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
- - Ông Phan Đắc H1, sinh năm 1954; địa chỉ: Số C, hẻm C, đường L, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông H1: ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1950; Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (theo văn bản uỷ quyền ngày 02/02/2024). Có mặt.
- * Người kháng cáo: ông Phạm Thành B là nguyên đơn;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn - ông Phạm Thanh T trình bày:
Ông Phạm Văn T1 là cha ruột của ông Phạm Thành B, ông T1 có phần đất thuộc thửa đất 945, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/4/1994, số C693505. Năm 2021 ông T1 mất, các con ông T1 đi làm thủ tục cấp đổi giấy đất, ngày 14/7/2022, Văn P1 đăng ký đất đai cử người đến đo, yêu cầu các hộ giáp ranh ký tên, thì riêng bà Đặng Kim H không ký (thửa 944), bà H yêu cầu xây thẳng hàng rào, phá bỏ hiện trạng xây dựng mà ông T1 đã xây dựng năm 2012, theo bản hòa giải của xã H vào ngày 19/12/2012 có địa chính xã và một số cán bộ trong xã, trong đó có gia đình ông T1 và gia đình bà H thống nhất ký tên. Ngày 15/8/2022 gia đình ông B có làm đơn khiếu nại đến phường H yêu cầu giải quyết, cán bộ tư pháp xã không nhận đơn và hướng dẫn ông B đến Văn Phòng đăng ký đất đai thị xã H giải quyết, ông B đến Văn Phòng đăng ký được lãnh đạo hướng dẫn đo đạc lần 2, có 03 chủ thửa đất kế bên ký tên là thửa 946, 949, 950, tờ bản đồ số 01 đồng ý ký tên, riêng bà H không ký, Phòng tiến hành thủ tục công khai niêm yết tại phường, thời gian niêm yết đã kết thúc ngày 02/02/2023 nhưng cán bộ địa chính xã không ký biên bản dẫn đo, đến ngày 17/3/2023 bà H làm đơn khiếu nại ra phường H. Ngày 12/04/2023, ông B gặp cán bộ địa chính phường hỏi về vấn đề giải quyết thửa đất của ông B, cán bộ nói nên khiếu nại cơ quan khác, vì ở đây phường không hòa giải nữa. Đến ngày 25/05/2023 được phường Hiệp T2 mời ông B và bà H lên hòa giải, thì bà H nói gia đình ông B lấn đất nhưng không biết diện tích bao nhiêu, về ý kiến của ông B thì gia đình ông B xây dựng theo hiện trạng sơ đồ sổ đỏ và biên bản hòa giải năm 2012 của ông T1 và bà H, ngày xây dựng có
chính quyền của ấp và xã tham gia. Nay khi ông B làm hồ sơ trích đo để cấp đổi giấy đất thì bà H kiếm chuyện nên không hòa giải được. Do đó ông B làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xem xét xử lý việc tranh chấp đất cũng như xác định lại ranh đất giữa gia đình ông B và bà Đặng Kim H giữa vị trí điểm gãy giữa hai ranh đất, diện tích bà H cho rằng của bà H là khoảng 5m, nhưng anh B cho rằng đó là của gia đình ông B (theo Giấy chứng nhận QSDĐ số 0693505, số vào sổ 01421 do UBND huyện H cấp ngày 29/04/1994) do ông Phạm Văn T1 đứng tên. Yêu cầu Tòa án công nhận diện tích tranh chấp nói trên là của gia đình ông B. Đối với kết quả đo đạc của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 ngày 07/3/2024 ông B yêu cầu điểm nào trùng ranh thì giữ nguyên, điểm nào lấn nhưng không đáng kể thì giữ nguyên hiện trạng. Đối với điểm không trùng ranh có diện tích chệnh lệch nhiều thì sẽ đập bỏ.
- Đại diện bị đơn – ông Nguyễn Văn R trình bày: Bà H là chủ sở hữu quyền sử dụng đất số 01048 QSDD/D6, diện tích 675m² thuộc thửa số 944, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã H, huyện H (nay là phường H, thị xã H), tỉnh Tây Ninh, do Ủy ban Nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/1994, có tứ cận như sau:
- + Đông giáp lộ 10m
- + Tây giáp thửa số 950, 951
- + Nam giáp thửa 943
- + Bắc giáp thửa 945 (của ông Phạm Văn T1)
Theo giấy chứng nhận được cấp, sơ đồ hình thể đất của bà H có hình chữ nhật, các cạnh đều thẳng, cạnh hướng bắc giáp đất ông T1 là đường thẳng, không gấp khúc. Năm 2015 ông T1 xây hàng rào lấn phình qua khoảng giữa đất của bà H khoảng 02 mét chiều dài, khoảng 0,5 mét chiều ngang (chỗ lấn bắt đầu khoảng 15 mét tính từ lộ 10 mét vào), bà H đã có đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân phường H (lúc đó còn là xã H) đề nghị đo đạc lại, để xác định diện tích đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Theo biên bản hòa giải ngày 25/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã H, bà H có đề nghị “Bên ông T1 có xây dựng hàng rào kiên cố thì nên đo đạc lại theo đúng diện tích được cấp. Nếu ông T1 có lấn sang diện tích đất của tôi thì ông T1 phải tháo dỡ và bà H không chịu trách nhiệm bồi thường”. Chính vì chưa xác định rõ ranh giới đất giữa bà H và ông Phạm Văn T1 nên quá trình đo đạc thửa đất của ông T1 bà H không ký tên tứ cận giáp ranh. Ngày 17/3/2023 bà H có khiếu nại đến Ủy ban nhân dân phường H, yêu cầu ông T1 trả lại đất cho bà H diện tích đất mà ông T1 đã xây rào lấn sang đất của bà H. Do đó bà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà H khẳng định phần diện tích ông Phạm Thành B tranh chấp là đất thuộc thửa 944 bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với kết quả đo đạc của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 ngày 07/3/2024, bà H đồng ý với kết quả đo
đạc của Công ty, điểm nào trùng ranh được cấp giấy của các bên thì giữ nguyên, điểm nào không trùng ranh, lấn thì đập bỏ để đúng với ranh được cấp giấy.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Kiều O, chị Phạm Thị Kiều Đ, anh Phạm Thanh P trình bày: chị O, chị Đ, anh P thống nhất với lời trình bày của ông B và có đơn xin vắng mặt.
Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Đắc H1 – ông Nguyễn Văn R trình bày: Ông H1 là chồng bà H, ông H1 thống nhất với lời trình bày của bà H.
Bản án sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
- Căn cứ vào Điều 156, 157, 163, 165, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 166, 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thành B yêu cầu bà Đặng Kim H trả cho ông B phần đất có diện tích 5m².
Phần đất của ông Phạm Thành T3 có tứ cận cụ thể như sau:
- Hướng Đông giáp đường nhựa 10m dài 11,73m;
- Hướng Tây giáp thửa 245 dài 8,91m, giáp thửa 242 dài 2,45m;
- Hướng Nam giáp thửa 243 (thửa 944 cũ) (của bà Đặng Kim H) dài 33,14m;
- Hướng Bắc giáp thửa 215 dài 33,49m;
Phần đất của bà Đặng Kim H có tứ cận cụ thể như sau:
- Hướng Đông giáp đường nhựa 10m dài 20,13m + 0,11m;
- Hướng Tây giáp thửa 348 dài 7,10m + 6m, giáp thửa 282 dài 5,04m;
- Hướng Nam giáp thửa 363 dài 33,98m;
- Hướng Bắc giáp thửa 242 (thửa cũ 945 của ông Phạm Văn T1) dài 33,14m;
Ông Phạm Thành B có nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào bằng tường gạch dài 11,39m + 21,79m để trả lại đất cho bà H theo sơ đồ của Công ty TNHH Đ1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Theo đơn kháng cáo ngày 17 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn ông Phạm Thành B kháng cáo đối với bản án số 29/2024/DS-ST ngày 06/5/2024 của Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1 và bà H có gấp khúc theo hiện trạng sử dụng đất là đúng.
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cho rằng đất bà H không gấp khúc, theo kết quả đo đạc và giấy đất thì thể hiện ranh đất giữa bà H và ông T1 là đường thẳng, bà H bị thiếu đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của ông B, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Phạm Thành B làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo, kháng nghị thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Phạm Thành B, thấy rằng:
Ông Phạm Văn T1 là cha ruột của ông Phạm Thành B, ông T1 có phần đất thuộc thửa đất 945, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh được UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/4/1994, số C693505. Năm 2021 ông T1 mất, các con ông T1 đi làm thủ tục cấp đổi giấy đất, ngày 14/7/2022, Văn P1 đăng ký cử người đến đo đạc, yêu cầu gia đình giáp ranh ký tên, thì riêng bà Đặng Kim H không ký (thửa 944), bà H yêu cầu xây thẳng hàng rào, phá bỏ hiện trạng xây dựng mà ông T1 đã xây dựng năm 2012 theo biên bản hòa giải của xã H vào ngày 19/12/2012, có địa chính xã, một số cán bộ trong xã, gia đình ông T1 và gia đình bà H thống nhất ký tên. Ngày 15/8/2022, gia đình ông B có làm đơn khiếu nại đến phường H
yêu cầu giải quyết, cán bộ tư pháp xã không nhận đơn và hướng dẫn ông B đến Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H giải quyết, ông B đến Văn phòng đăng ký được lãnh đạo hướng dẫn đo đạc lần 2, có 03 chủ thửa đất kế bên ký tên là thửa 946, 949, 950, tờ bản đồ số 01 đồng ý ký tên, riêng bà H không ký, Phòng tiến hành thủ tục công khai niêm yết tại phường, thời gian niêm yết đã kết thúc ngày 02/02/2023 nhưng cán bộ địa chính xã không ký biên bản dẫn đo. Do đó, ông B làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân Thị xã Hòa Thành xem xét xử lý việc tranh chấp đất cũng như xác định lại ranh đất giữa gia đình ông B và bà Đặng Kim H.
Xét yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông B thấy rằng: Toà án thị xã H thụ lý đơn khởi kiện ông B yêu cầu Toà án công nhận diện tích tranh chấp 5 m² cho anh là không đúng vì việc này bà H không có tranh chấp với anh; bà H không có đơn yêu cầu phản tố nhưng Toà án xét xử buộc ông B tháo dỡ hàng rào trả lại đất cho bà H là không đúng với quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự “Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện”.
Ông T1 đã xây dựng hàng rào kiên cố từ năm 2012 có sự chứng kiến bà H và chính quyền địa phương theo như biên bản thoả thuận với nhau. Theo như khảo sát hiện trạng hàng rào thể hiện hàng rào được xây dựng kiến cố bằng gạch ống, có móng rào. Khi ông T1 xây dựng hàng rào bà H cũng không có ý kiến phản đối hay ngăn cản việc xây dựng của ông T1, cũng nhưng không có khiếu nại đối với việc xây dựng của ông T1. Như vậy, có căn cứ xác định ranh đất đã được các bên thoả thuận và thống nhất tại biên bản hòa giải năm 2012. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà H cho rằng năm 2012, cán bộ địa chính xuống đo đạc và lập biên bản thì bà H không đồng ý với biên bản và bị ép buộc kí tên nhưng không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày. Toà cấp sơ thẩm buộc ông B tháo dỡ hàng rào đã xây năm 2012 là không đúng với quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự. Do đó, ranh đất của gia đình ông T1 và bà H đã được xác định là tường rào ông T1 xây dựng năm 2012 theo biên bản hoà giải ngày 19/12/2012. Qua đo đạc thực tế thì phần xây dựng hàng rào lấn qua đất bà H được quyền sử dụng là 13,9 m², diện tích đất này gia đình ông T1 đã sử dụng từ đó cho đến nay không ai tranh chấp đến khi ông B nhận thừa kế phần đất này và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận thì bà H không ký xác nhận tứ cận nên các bên xảy ra tranh chấp. Từ các nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B. Ông B được quyền sử dụng phần đất có diện tích 13,9 m² thuộc thửa 243 (thửa cũ 944), tờ bản đồ số 09 (BDĐC VN-2000) nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H được cấp.
Phần đất ông B tiếp tục được quyền sử dụng diện tích 13,9 m² theo sơ đồ hiện trạng ngày 09/3/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp đường nhựa 10m dài 0,11m.
- + Hướng Tây là đỉnh tam giác trùng điểm ranh giữa thửa 242 với thửa 243.
- + Hướng Nam giáp thửa 243 (thửa 944 cũ) của bà Đặng Kim H dài 21,79m + 11,39m.
- + Hướng Bắc giáp thửa 242 dài 33,14 m.
[4] Chi phí tố tụng: ông Phạm Thành B tự nguyện chịu và đã chi phí xong.
[5] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Phạm Thành B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Chấp nhận kháng cáo ông Phạm Thành B;
- - Sửa bản án sơ thẩm số: Bản án sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ các Điều 166, 175, 236 Bộ luật Dân sự; Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai 2013; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Phạm Thành B.
Ông Phạm Thành B tiếp tục được quyền sử dụng phần đất có diện tích 13,9 m² theo sơ đồ hiện trạng ngày 09/3/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp đường nhựa 10m dài 0,11m.
- + Hướng Tây là đỉnh tam giác trùng điểm ranh giữa thửa 242 với thửa 243.
- + Hướng Nam giáp thửa 243 (thửa 944 cũ) của bà Đặng Kim H dài 21,79m + 11,39m.
- + Hướng Bắc giáp thửa 242 dài 33,14 m.
(có sơ đồ kèm theo)
2. Chi phí tố tụng: Ông Phạm Thành B tự nguyện chịu 32.400.000 đồng (ba mươi hai triệu bốn trăm ngàn) đồng, đã nộp xong.
3. Về án phí:
3.1 Ông Phạm Thành B không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Thành B số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm ông Phạm Thành B đã nộp theo các
Biên lai thu số 0010791 ngày 11-01-2024 và 0011216 ngày 23-5-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
3.2 Bà Đặng Kim H được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Trường hợp, bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Cường |
Bản án số 367/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 367/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông B khởi kiện yêu cầu xem xét xử lý việc tranh chấp đất cũng như xác định lại ranh đất giữa gia đình ông B và bà Đặng Kim H, yêu cầu Tòa án công nhận diện tích tranh chấp là của gia đình ông B. Đối với kết quả đo đạc của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 ngày 07/3/2024 ông B yêu cầu điểm nào trùng ranh thì giữ nguyên, điểm nào lấn nhưng không đáng kể thì giữ nguyên hiện trạng. Đối với điểm không trùng ranh có diện tích chệnh lệch nhiều thì sẽ đập bỏ.
