TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 366A/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Lan
- Bà Phạm Thị Nguyệt Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, cán bộ TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKS nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 735/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 736/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo dời thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án đối với các bị cáo:
- Đặng Quang Vinh, sinh năm 1974, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: số 108 đường D2, tổ 7, khu phố 5, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Nơi đăng ký thường trú: D1A, đường 672, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn Anh Vinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn Vịnh, sinh năm 1940 (đã chết, liệt sĩ); Con bà: Lã Thị Mai, sinh năm 1941 (còn sống); có vợ Hà Thị Hồng Thúy, sinh năm 1976 và có 02 người con (con lớn sinh năm 2004 và con nhỏ nhất sinh năm 2014). Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Vinh: Luật sư Đinh Thị Nhung, thuộc Công ty Luật TNHH Bảo Lâm – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
- Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1981, tại Thái Bình; Nơi cư trú: số 818/1/19 Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV Xây dựng Hoa Lư Việt (giai đoạn từ ngày 06/4/2018 đến ngày 30/4/2019); Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc Quế, sinh năm 1940 (còn sống); Con bà: Đặng Thị Riến, sinh năm 1939 (còn sống); có vợ Trân Huỳnh Ngọc Ngà, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2016. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Nguyễn Thu Thảo, sinh năm 1982, tại Kiên Giang; Nơi cư trú: số 133, tổ 10, khu phố 12, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Trọng Tản, sinh năm 1949 (còn sống); Con bà: Nguyễn Thu Hà, sinh năm 1951 (còn sống); có chồng Đỗ Văn Tuấn, sinh năm 1977 (đã ly hôn): và có 01 người con sinh năm 2006. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Nguyễn Thị Hồng Mai, sinh năm 1992, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: số 21/4B, khu phố 1, phường Tam Hòa (nay là Bình Đa), thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thư ký Chủ tịch Hội đồng quản trị; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Hồng Nhiên, sinh năm 1958 (còn sống); Con bà: Nguyễn Thị Xuân Lan, sinh năm 1966 (còn sống); Có chồng Nguyễn Bảo Nguyên, sinh năm 1992 và có 01 người con sinh năm 2022. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Mai: Luật sư Đinh Thị Nhung, thuộc Công ty Luật TNHH Bảo Lâm – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
- Lê Thị Thu, Sinh năm 1992, tại Bình Định; Nơi cư trú: số 72, đường số 10, phường Tăng Nhơn Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Nơi đăng ký thường trú: thôn Lộc Khánh, xã Cát Hưng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định); Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Con ông Lê Văn Xuân, sinh năm 1971 (còn sống); Con bà: Phùng Thị Cẩm, sinh năm 1970 (còn sống); Có chồng Phạm Hữu Thanh, sinh năm 1992 và có 01 người con sinh năm 2020. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Thu: Ông Đoàn Trí Phồn, thuộc Văn phòng luật sư Nam Nguyên – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyên đơn dân sự: Cục thuế tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Trương Thanh Quyền, sinh năm: 1980 – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Thanh tra – Kiểm tra 4 Cục thuế tỉnh Đồng nai
Địa chỉ: R22 D4 Võ Thị Sáu, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH MTV xây dựng Hoa Lư Việt
Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Bà Lê Thị Minh Vi, sinh năm 1973 – Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: 0.12 Chung cư 79C Phạm Viết Chánh, phường 19, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
(Các bị cáo có mặt, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH một thành viên xây dựng Hoa Lư Việt (có địa chỉ trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: số 531B, Quốc lộ 51, tổ 29, khu phố 3, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), (sau đây viết tắt là Công ty Hoa Lư Việt), được Đặng Quang Vinh là Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Anh Vinh (Địa chỉ: số 537, Quốc lộ 51, khu phố 3, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) (sau đây viết tắt là Tập đoàn Anh Vinh) chỉ đạo cho ông Nguyễn Mạnh Cường (sinh năm 1973, nơi đăng ký thường trú: số 12/329D đường Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh) là nhân viên Phòng Kế hoạch kiêm lái xe của Tập đoàn Anh Vinh làm thủ tục thành lập và đứng tên làm chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Hoa Lư Việt, có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mã số "360324631", đăng ký lần đầu ngày 13/01/2015. Đồng thời, chỉ đạo cho Nguyễn Thu Thảo (là Phó Giám đốc tài chính của Tập đoàn Anh Vinh) làm kế toán trưởng của Công ty Hoa Lư Việt. Đến giữa tháng 3 năm 2018, anh Cường xin nghỉ việc thì Vinh tiếp tục chỉ đạo cho Nguyễn Văn Quang (là Trợ lý Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc chi nhánh Tập đoàn Anh Vinh tại quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh) làm chủ tịch kiêm Giám đốc của Công ty Hoa Lư Việt, đồng thời giao cho anh Cường làm thủ tục và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 06/4/2018. Sau đó, đến ngày 02/5/2019, được đăng ký thay đổi chuyển sang cho bà Lê Thị Minh Vi (sinh năm 1992, nơi đăng ký thường trú: 0.12 Chung cư 79C Phạm Viết Chánh, phường 19, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh) làm Giám đốc của Công ty Hoa Lư Việt. Toàn bộ hoạt động của Công ty Hoa Lư Việt đều do Vinh trực tiếp quản lý, chỉ đạo, điều hành thông qua các Phòng ban và các nhân sự của Tập đoàn Anh Vinh thực hiện, cụ thể: Nguyễn Văn Quang - là người đại diện theo pháp luật về toàn bộ hoạt động của Công ty Hoa Lư Việt; Nguyễn Thị Hồng Mai là Thư ký Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Anh Vinh có nhiệm vụ tiếp nhận hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) từ Vinh, lập bảng tổng hợp hóa đơn đầu vào, sau đó chuyển cho Phòng tài chính - kế toán của Tập đoàn Anh Vinh để thực hiện việc kê khai, báo cáo thuế cho Công ty Hoa Lư Việt; Phòng tài chính - kế toán có nhiệm vụ tham mưu cho Vinh để cân đối số liệu và thực hiện kê khai, báo cáo thuế cho Công ty Hoa Lư Việt.
Vào năm 2018, để hợp thức hóa chi phí đầu vào của các công trình do Tập đoàn Anh Vinh phân bổ cho Công ty Hoa Lư Việt thực hiện, Vinh đã cung cấp thông tin 05 hóa đơn GTGT khống (gồm các hóa đơn GTGT: số 0000001 ngày 13/01/2018, số 0000008 ngày 25/01/2018, số 0000012 ngày 26/01/2018, số 0000001 ngày 02/02/2018 và số 0000002 ngày 28/02/2018), có tổng trị giá ghi trên hóa đơn là 20.038.587.117 đồng (Hai mươi tỷ, không trăm ba mươi tám triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm mười bảy đồng) nhưng không có hóa đơn thực tế và 01 hóa đơn GTGT số 0001567 ngày 11/9/2017 có trị giá ghi trên hóa đơn 3.477.666.750 đồng (Ba tỷ, bốn trăm bảy mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, bảy trăm năm mươi đồng) đã được kê khai thuế vào năm 2017, cho Mai và chỉ đạo giao cho Phòng tài chính - kế toán đưa vào kê khai thuế quý 1 năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt. Sau khi nhận được thông tin hóa đơn GTGT trên, Thảo đã chỉ đạo cho bà Phan Thị Ánh Tuyết (sinh năm 1981, ngụ tại: tổ 8, khu 2, ấp 7, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) là nhân viên Phòng tài chính - kế toán Tập đoàn Anh Vinh căn cứ theo bảng kê các hóa đơn GTGT do Mai cung cấp trên để lập tờ khai thuế quý 1 năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt và lưu trên máy vi tính tại phòng làm việc. Đến ngày 12/4/2018, Thảo chỉ đạo cho Vũ Bích Hoài Thương (sinh năm 1993, ngụ tại: số 86B, thôn 2A, xã Đông Hà, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận) là nhân viên mới được Tập đoàn Anh Vinh tuyển dụng và bố trí làm việc tại Phòng tài chính - kế toán Tập đoàn Anh Vinh thực hiện việc gửi tờ khai thuế quý 1 năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt (do chị Tuyết lập nêu trên) cho Cục thuế tỉnh Đồng Nai.
Đến tháng 10 năm 2018, sau khi được tuyển dụng, ký hợp đồng chính thức, Lê Thị Thu được bố trí làm việc tại Phòng tài chính - kế toán của Tập đoàn Anh Vinh và được Thảo trực tiếp phân công nhiệm vụ kê khai thuế cho Tập đoàn Anh Vinh và cho Công ty Hoa Lư Việt. Quá trình thực hiện thủ tục quyết toán thuế năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt, nhận thấy có chênh lệch giữa số liệu thể hiện trên tờ khai và hóa đơn, chứng từ thực tế thể hiện hàng hóa mua vào của Công ty Hoa Lư Việt, thiếu hóa đơn GTGT trên (không có hóa đơn lưu trữ kèm theo) nên Thu đã báo lại cho Thảo và Mai thì được chỉ đạo tiếp tục thực hiện thủ tục lập và nộp tờ khai quyết toán thuế năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt theo chỉ đạo của Vinh, sau đó Thu tiếp tục sử dụng số liệu trên các tờ khai thuế từ quý 1 đến quý 4 năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt để lập tờ khai quyết toán thuế năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt, chuyển file cho Thảo và Mai kiểm tra, sau đó vào ngày 19/3/2019 Thu đã nộp tờ khai quyết toán thuế năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt cho Cục thuế tỉnh Đồng Nai, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước tổng số tiền thuế là 4.014.263.935 đồng (Bốn tỷ, không trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: thuế GTGT trong quý 1/2018 là 920.547.561 đồng (Chín trăm hai mươi triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi mốt đồng) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2018 là 3.093.716.374 đồng (Ba tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, ba trăm bảy mươi tư đồng).
Đến ngày 23/3/2020, thông qua hoạt động kiểm tra thuế, Cục thuế tỉnh Đồng Nai đã phát hiện hành vi nêu trên của Công ty Hoa Lư Việt nên đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa xác minh, khởi tố, điều tra, xử lý.
Vật chứng của vụ án gồm:
- Tài liệu về kết quả kiểm tra của Cục thuế tỉnh Đồng Nai tại Công ty Hoa Lư Việt;
- Các Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước ngày 20/8/2024, 17/9/2024 và 20/9/2024, do bị can Vinh giao nộp, thể hiện Công ty Hoa Lư Việt đã trực tiếp nộp tổng số tiền 1.714.263.935 đồng (Một tỷ, bảy trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng) vào Ngân sách Nhà nước để khắc phục thiệt hại;
- Số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), do bị cáo Nguyễn Thu Thảo giao nộp thay cho Công ty Hoa Lư Việt để khắc phục hậu quả.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số chứng thực 7074/KL-CT ngày 24/8/2021 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai kết luận: Hành vi của Công ty Hoa Lư Việt kê khai 02 lần 01 hóa đơn GTGT và kê khai khống 05 hóa đơn mua vào, không có hóa đơn, chứng từ; hạch toán giá trị khống vào chi phí khi quyết toán thuế TNDN năm 2018, thuộc hành vi trốn thuế, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước thuế GTGT là 920.547.561 đồng (Chín trăm hai mươi triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi mốt đồng) và thuế TNDN là 3.093.716.374 đồng (Ba tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, ba trăm bảy mươi tư đồng).
Về dân sự: Ông Trương Thanh Quyền - Phó Trưởng phòng Thanh tra - Kiểm tra 4 Cục thuế tỉnh Đồng Nai, là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn dân sự trong vụ án (là Nhà nước) yêu cầu Công ty Hoa Lư Việt phải nộp khắc phục thiệt hại thuế cho Ngân sách Nhà nước tổng số tiền 4.014.263.935₫ (Bốn tỷ, không trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng). Công ty Hoa Lư Việt đã khắc phục được tổng số tiền 2.014.263.935₫ (Hai tỷ, không trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng), cụ thể: đã nộp trực tiếp vào tài khoản của Cục thuế tỉnh Đồng Nai mở tại Kho bạc Nhà nước số tiền 1.714.263.935 đồng (Một tỷ, bảy trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng) và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Ông Quyền yêu cầu Công ty Hoa Lư Việt tiếp tục khắc phục thiệt hại số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) cho Ngân sách Nhà nước.
Tại bản Cáo trạng số 713/CT/VKSBH ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Đặng Quang Vinh, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thu Thảo, Nguyễn Thị Hồng Mai, Lê Thị Thu về tội “Trốn thuế” theo khoản 3 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đã phạm vào tội “Trốn thuế” như đã nêu trên.
Do đó đề nghị: áp dụng khoản 3 Điều 200; khoản 2 Điều 54; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Riêng bị cáo Vinh đã chủ động chỉ đạo Công ty Hoa Lư Việt khắc phục thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước với tổng số tiền 4.014.263.935 đồng, bị cáo là con của liệt sĩ Đặng Văn Vịnh nên xem xét áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Vinh theo các điểm b và x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Đặng Quang Vinh: Phạt tiền 1.000.000.000 – 1.500.000.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Văn Quang: Phạt tiền 300.000.000 – 400.000.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Thu Thảo: Phạt tiền 300.000.000 – 400.000.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Thị Hồng Mai: Phạt tiền 300.000.000 – 400.000.000 đồng.
- Bị cáo Lê Thị Thu: 100.000.000 đồng – 150.000.000 đồng
Bào chữa cho bị cáo Đặng Quang Vinh và bị cáo Nguyễn Thị Hồng Mai Luật sư Đinh Thị Nhung trình bày:
Đối với bị cáo Đặng Quang Vinh: Luật sư thống nhất với tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Cáo trạng đã nêu. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Vinh là người quản lý chung, không phải là người quản lý điều hành chi tiết công việc của công ty, bị cáo nhận thức rõ trách nhiệm của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cũng như các bị cáo còn lại. Đối với hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra là phạt tiền 1.000.000.000 đồng – 1.500.000.000 là quá cao, Hội đồng xét xử cần cân nhắc.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng Mai: Luật sư thống nhất với tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Cáo trạng đã nêu, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình, bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Đối với hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra là phạt tiền 300.000.000 đồng – 400.000.000 là quá cao, Hội đồng xét xử cần cân nhắc.
Bào chữa cho bị cáo Lê Thị Thu Luật sư Đoàn Trí Phồn trình bày: Đối với bị cáo Lê Thị Thu Luật sư thống nhất với tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Cáo trạng đã nêu. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Thu mặc dù là người trực tiếp thực hiện việc kê khai quyết toán thuế năm 2018, nhưng bị cáo đã phát hiện việc thiếu hóa đơn và đã báo cho bị cáo Mai, bị cáo Thảo biết, tuy nhiên sau đó bị cáo đã thụ động thực hiện theo chỉ đạo của bị cáo Mai và bị cáo Thảo, vẫn nộp quyết toán thuế năm 2018 cho cơ quan quản lý thuế. Trong chuỗi hành vi này bị cáo chỉ là người giúp sức với vai trò thứ yếu, thụ động, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 miễn hình phạt cho bị cáo Thu. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất là quá cao.
Bị cáo Nguyễn Văn Quang trình bày: Để xảy ra sự việc hôm nay bị cáo thấy ăn năn và hối hận, do trình độ hiểu biết Pháp luật còn non kém nên mới vi phạm Pháp luật. Bị cáo đồng ý với truy tố của Cáo trạng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình, bố mẹ bị cáo bị bệnh nặng và đang điều trị tại bệnh viện 175 chỉ có bị cáo chăm sóc, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân chương chống Mỹ.
Bị cáo Nguyễn Thu Thảo: Bị cáo thống nhất với tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Cáo trạng đã nêu, do bị cáo thiếu hiểu biết nên mới phạm tội. Bị cáo là mẹ đơn thân, nuôi con học đại học, có bố mẹ già cần chăm sóc. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Công ty Hoa Lư Việt là doanh nghiệp được Đặng Quang Vinh là Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Anh Vinh chỉ đạo thành lập, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mã số “360324631", đăng ký lần đầu ngày 13/01/2015. Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2019, giai đoạn Nguyễn Văn Quang làm chủ tịch kiêm Giám đốc – là người đại diện theo pháp luật của Công ty Hoa Lư Việt, Vinh đã chỉ đạo và cùng với Nguyễn Thị Hồng Mai, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thu Thao và Lê Thị Thu sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để kê khai, hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế của Công ty Hoa Lư Việt gây thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước tổng số tiền 4.014.263.935₫ (Bốn tỷ, không trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng), gồm: thuế GTGT trong quý 1/2018 là 920.547.5610 (Chín trăm hai mươi triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi mốt đồng) và thuế TNDN năm 2018 là 3.093.716.374₫ (Ba tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, ba trăm bảy mươi tư đồng) thì bị phát hiện, khởi tố điều tra, xử lý.
Trong vụ án này bị cáo Đặng Quang Vinh với tư cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn Anh Vinh là người chủ mưu chỉ đạo toàn bộ hoạt động công ty, từ việc thành lập Công ty Hoa Lư Việt tồn tại như công ty con để phục vụ cho các mục đích kinh doanh của Công ty cổ phần tập đoàn Anh Vinh, sắp xếp người đại diện theo Pháp luật, sắp xếp nhân sự các phòng ban, bộ phận của các công ty mặc dù về mặt pháp lý các công ty đều độc lập trong hoạt động, bị cáo là người chủ động tiếp nhận hóa đơn, lập bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào của Công ty Hoa Lư Việt để kê khai thuế trước, sau đó khi có hóa đơn giá trị gia tăng sẽ đưa cho bị cáo Mai chuyển phòng Tài chính kế toán tổng hợp lưu giữ. Đối với 5 hóa đơn kê khai khống chính bị cáo là người chỉ đạo bị cáo Mai và bị cáo Thảo tiếp tục chỉ đạo bị cáo Thu vẫn tiếp tục thực hiện việc kê khai quyết toán năm 2018, dẫn đến số liệu kê khai hàng hóa mua vào tại kỳ tính thuế quý 1/2018 của công ty Hoa Lư Việt là không chính xác, làm phát sinh thiệt hại về thuế cho nhà nước gồm: thuế GTGT trong quý 1/2018 là 920.547.561 (Chín trăm hai mươi triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi mốt đồng) và thuế TNDN năm 2018 là 3.093.716.374₫ (Ba tỷ, không trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, ba trăm bảy mươi tư đồng). Do đó Hội đồng xét xử xác định bị cáo là người có vai trò cao nhất trong vụ án.
Bị cáo Quang là người tiếp ứng bị cáo Vinh khi đồng ý là người đứng tên đại diện theo Pháp luật của công ty Hoa Lư Việt, bản thân bị cáo Quang trong quá trình làm người đại diện theo Pháp luật cũng chịu sự chỉ đạo của bị cáo Vinh, quá trình kê khai thuế bị cáo không biết, không tham gia, và cũng không giúp sức cho các bị cáo kê khai thuế quý 1/2018 và quyết toán năm 2018. Bị cáo Mai và bị cáo Thảo trên cơ sở mệnh lệnh của bị cáo Vinh đã chỉ đạo cho bị cáo Thu phải tiến hành nộp quyết toán thuế năm 2018 dù bị cáo Thu có phản hồi không có 5 hóa đơn, chứng từ như kê khai thuế Quý I/2018. Do vậy bị cáo Quang, bị cáo Mai và bị cáo Thảo giữ vai trò thứ 2 trong vụ án này.
Bị cáo Thu là người trực tiếp thực hiện kê khai thuế quyết toán năm 2018 của Công ty Hoa Lư Việt theo mệnh lệnh và sự chỉ đạo của các bị cáo trên. Do đó, bị cáo Thu là đồng phạm giữ vai trò thấp nhất trong vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Quang cho rằng đối với thủ tục thay đổi người đại diện theo Pháp luật của Công ty Hoa Lư Việt từ anh Nguyễn Mạnh Cường sang bị cáo Quang, bị cáo không trực tiếp làm các thủ tục này, toàn bộ chữ ký Nguyễn Văn Quang không phải là chữ ký của bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận bị cáo đồng ý đứng tên giùm là người đại diện theo Pháp luật của công ty Hoa Lư Việt, quá trình điều hành Hoa Lư Việt bị cáo thực hiện chức năng, nhiệm vụ như một người đại diện theo Pháp luật, bị cáo biết công ty Hoa Lư Việt có hoạt động báo cáo thuế, kê khai thuế hàng quý, hàng năm nhưng bị cáo vẫn để mặc cho bị cáo Thảo, bị cáo Thu chủ động kê khai thuế, sử dụng các thiết bị kê khai thuế gửi cho cơ quan quản lý thuế mà không có sự kiểm tra, giám sát, quản lý của bị cáo. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình với vai trò đồng phạm trong vụ án này, ý kiến của bị cáo như đã nêu ở trên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đánh giá tính chất, mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định, chính sách quản lý kinh tế trong việc quản lý thuế, gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng mức án nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của các bị cáo Đặng Quang Vinh, Nguyễn Thị Hồng Mai, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thu Thảo và Lê Thị Thu đã phạm vào tội “Trốn thuế”, không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên xét xử ở khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
200 Bộ luật hình sự.
[3] Về hình phạt áp dụng cho các bị cáo:
3.1. Đánh giá tính chất và mức độ thực hiện hành vi phạm tội: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, cụ thể:
3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Vinh đã chủ động khắc phục thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước với tổng số tiền 4.014.263.935 đồng; đồng thời bị cáo là con của liệt sĩ Đặng Văn Vịnh nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Vinh theo các điểm b và x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này các bị cáo Nguyễn Thu Thảo, Lê Thi Thu, Nguyễn Thị Hồng Mai mặc dù bị truy tố về tội nghiêm trọng, tuy nhiên các bị cáo đều là người làm công ăn lương, công việc mang tính phụ thuộc rất lớn vào người quản lý của mình, quá trình kê khai thuế cũng không tự chủ động mà phải bị chi phối và lệ thuộc vào bị cáo Đặng Quang Vinh, bị cáo Nguyễn Văn Quang cũng chỉ là người đứng tên giúp cho bị cáo Vinh, mọi hoạt động điều hành, quản lý Hoa Lư Việt là dựa trên cơ sở chỉ đạo của bị cáo Vinh, hoạt động kê khai thuế bị cáo Quang cũng không trực tiếp biết và tham gia. Tại phiên tòa bị cáo Vinh cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo còn lại được giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo Vinh xác định việc để xảy ra vụ án này là trách nhiệm của bị cáo, do các bị cáo phải tuân theo mệnh lệnh của bị cáo Vinh,
Trên cơ sở xem xét toàn diện vụ án, cũng như phân hóa vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử xác định vai trò của các bị cáo Quang, bị cáo Thảo, bị cáo Thu, bị cáo Mai chỉ là “phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm” đây được xem là “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và từ trước đến nay “chưa phạm tội lần nào”, kết hợp hai yếu tố này đủ điều kiện để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho các bị cáo như giải thích tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao.
Ngoài ra các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, bị cáo Vinh, bị cáo Quang, bị cáo Thảo phải nuôi bố mẹ già, bị cáo Mai và bị cáo Thu phải nuôi con nhỏ, các bị cáo trong quá trình tại ngoại đã luôn chấp hành tốt quy định Pháp luật địa phương, thiệt hại trong vụ án cũng đã được khắc phục xong, các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo mình để trở thành công dân tốt, nên căn cứ Điều 35 Bộ luật Hình sự không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử các bị cáo phạt tiền là cũng đủ nghiêm, thể hiện chính sách nhân đạo của Pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.
[4] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001820 ngày 13/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa để đảm bảo thi hành án.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Quang Vinh đã khắc phục toàn bộ thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Các bị cáo chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 200; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Áp dụng thêm điểm b, x khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Đặng Quang Vinh.
Áp dụng thêm điểm i đối với bị cáo Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thu Thảo, Nguyễn Thị Hồng Mai, Lê Thị Thu.
2. Tuyên bố các bị cáo Đặng Quang Vinh, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thu Thảo, Nguyễn Thị Hồng Mai, Lê Thị Thu phạm tội “Trốn thuế”.
3. Xử phạt:
- Bị cáo Đặng Quang Vinh số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
- Bị cáo Nguyễn Văn Quang số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng)
- Bị cáo Nguyễn Thu Thảo số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng)
- Bị cáo Nguyễn Thị Hồng Mai số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng)
- Bị cáo Lê Thị Thu số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng)
4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001820 ngày 13/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa để đảm bảo thi hành án.
5. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định Pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN |
| CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Bản án số 366A/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (trốn thuế)
- Số bản án: 366A/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trốn thuế)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Quang Vinh, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thu Thảo, Nguyễn Thị Hồng Mai, Lê Thị Thu
