|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 366/2024/HS-ST
Ngày: 28-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
Thẩm phán: Ông Hoàng Văn thành
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Vũ Lâm
Bà Vũ Thị Cự
Bà Nguyễn Thị Hải Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN C, sinh ngày 04/11/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị H; có vợ Bùi Thị Thúy H1 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/12/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C:
Ông Nguyễn Ánh T1 - Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn A thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
* Bị hại:
Anh Trần Hữu C1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tòa S, Chung cư V, phường T, quận N, TP Hà Nội, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2; địa chỉ: A.12 B4 C/C Riva Park, E N, phường A, quận D, TP Hồ chí Minh do ông Bùi Thanh L, sinh năm 1981 - Đại diện theo pháp luật, ủy quyền cho ông Trần Hữu C1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tòa S, Chung cư V, phường T, quận N, TP Hà Nội, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, thông qua các mối quan hệ xã hội nên Nguyễn Văn C (sinh năm 1996; trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) là người làm nghề lái xe ôm công nghệ, có quen biết với anh Trần Hữu C1 (sinh năm 1980; trú tại tòa S, Chung cư V, phường T, quận N, Hà Nội), là người đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (Công ty T2). Quá trình quen biết, Văn C đã nói dối anh Hữu C1 là cán bộ Công an đang công tác tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, có quen biết nhiều mối quan hệ trong xã hội, mục đích để phô trương bản thân. Do tin lời C1 là thật nên khoảng tháng 4/2023, anh Hữu C1 trao đổi với Văn C nhờ tìm cách mở lại mã số thuế cho Công ty T2, do mã số thuế của công ty đang bị khóa không thể kinh doanh được. Sau khi nghe anh Hữu C1 nói, do đang cần tiền để chi tiêu cá nhân nên Văn C đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Hữu C1. Để thực hiện hành vi, Văn C đã nói dối anh Hữu C1 là có người nhà công tác tại Tổng cục T3, có thể giúp mở lại mã số thuế cho Công ty T2. Để anh Hữu C1 tin tưởng, Văn C đã mua 01 chiếc sim điện thoại di động (loại khuyến mại) đăng ký tài khoản Facebook “Nguyễn Long HN”, rồi tự nhắn tin qua lại với tài khoản Facebook cá nhân “Cường N” của Văn C với nội dung trao đổi về việc mở lại mã số thuế, sau đó chụp ảnh màn hình điện thoại và gửi cho anh Hữu C1.
Khi thấy anh Hữu C1 đã tin tưởng, Văn C thông báo với anh Hữu C1 chi phí để tiến hành xin mở lại mã số thuế là 1.800.000.000 đồng. Do không lo được số tiền trên nên anh Hữu C1 có xin Văn C giảm chi phí thì Văn C đồng ý và giảm xuống còn 1.220.000.000 đồng; đồng thời yêu cầu anh Hữu C1 phải chuẩn bị số tiền trên trong vòng 15 ngày. Sau đó, anh Hữu C1 đã nhiều lần đưa tiền cho Văn C bằng hình thức chuyển khoản và trực tiếp, cụ thể như sau:
- Ngày 27/4/2023, anh Hữu C1 chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân số 0441003773914 mở Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (V) vào tài khoản số 6268681 mang tên Nguyễn Văn C của Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1), với nội dung: “DPC ck tien mo MST”, nghĩa là Công ty T2 chuyển khoản tiền mở mã số thuế.
- Ngày 13/5/2023, anh Hữu C1 chuyển khoản số tiền 720.000.000 đồng theo yêu cầu của Văn C để nộp tiền thuế, Văn C cam kết đến ngày 02/6/2023 sẽ mở được mã số thuế cho Công ty T2. Số tiền này, anh Hữu C1 chuyển khoản cho Văn C làm 03 lần vào số tài khoản 6268681 mang tên Nguyễn Văn C mở tại Ngân hàng A1. Cụ thể, lần thứ nhất anh Hữu C1 chuyển khoản số tiền 499.999.999 đồng, lần thứ hai chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng và lần thứ ba chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng.
- Ngày 31/5/2023, anh Hữu C1 trực tiếp đưa số tiền 150.000.000 đồng cho Văn C tại quán K ở số nhà H, đường N Kon Tum, phường T, quận T, Hà Nội.
- Ngày 01/6/2023, anh Hữu C1 chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng đến tài khoản 6268681 của Nguyễn Văn C mở tại Ngân hàng A1.
Tổng số tiền do Văn C đã nhận của anh Hữu C1 từ ngày 27/4/2023 đến ngày 01/6/2023 là 1.220.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, Văn C không liên hệ với ai để thực hiện việc xin mở mã số thuế cho Công ty T2 mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết 820.000.000 đồng. Còn lại 400.000.000 đồng, Văn C cất giữ lại với mục đích để mua xe ô tô. Khi thấy Văn C không thực hiện được công việc như đã hứa hẹn, anh Hữu C1 đã nhiều lần liên hệ để đòi lại tiền. Ngày 15/6/2023, Văn C đã trả lại anh Hữu C1 số tiền 300.000.000 đồng bằng phương thức chuyển khoản vào tài khoản số 0071000608610 của anh Bùi Thanh L (là giám đốc Công ty T2) mở tại Ngân hàng V. Đến ngày 27/6/2023, Văn C tiếp tục chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản của anh Bùi Thanh L, còn chiếm đoạt của anh Hữu C1 820.000.000 đồng. Ngày 30/6/2023, anh Trần Hữu C1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H để tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn C.
Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ do anh Trần Hữu C1 giao nộp gồm 110 trang tài liệu là nội dung tin nhắn giữa anh Trần Hữu C1 và Nguyễn Văn C về việc nhận tiền và trao đổi mở lại mã số thuế cho Công ty T2.
Đối với 01 sim điện thoại di động khuyến mại do Nguyễn Văn C đã sử dụng để đăng ký tài khoản Facebook “Nguyễn Long HN”. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Văn C đã vứt bỏ nên Cơ quan điều tra không truy tìm được.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 do Nguyễn Văn C sử dụng để liên lạc với anh Trần Hữu C1. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Văn C đã bán lại cho một người không quen nên Cơ quan điều tra không truy tìm được.
Trách nhiệm dân sự:
Anh Trần Hữu C1 yêu cầu bị can Nguyễn Văn C phải bồi thường số tiền 820.000.000 đồng. Hiện bị can Văn C chưa bồi thường cho anh Hữu C1.
Bản cáo trạng số 109/CT-VKSHN-P2 ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã quy kết, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất do con còn nhỏ, ông nội, ngoại tham gia kháng chiến, có công với cách mạng.
Bị hại anh Trần Hữu C1 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; anh C1 đã nhận được bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng, nay anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 780.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật chứng thu giữ cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn C từ 12 đến 13 năm tù; về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho anh Trần Hữu C1 số tiền 780.000.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C trình bày luận cứ bào chữa không có ý kiến gì về tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố; trước khi khởi tố vụ án bị cáo đã bồi thường 400.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo tác động gia đình bồi thường thêm cho bị hại 40.000.000 đồng; bị hại quá tin tưởng bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo chiếm đoạt tiền; bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có ông ngoại có công với cách mạng. Luật sư đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Do có ý định chiếm đoạt tiền của anh Trần Hữu C1 nên Nguyễn Văn C đã đưa ra những thông tin gian dối, tự giới thiệu có người nhà công tác tại Tổng cục T3 có thể giúp mở lại mã số thuế cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 với chi phí 1.220.000.000 đồng. Tin tưởng những thông tin do Văn C đưa ra là thật nên trong các ngày 27/4/2023, 13/5/2023, 31/5/2023 và ngày 01/6/2023, anh Hữu C1 đã giao cho Văn C tổng số tiền là 1.220.000.000 đồng để nhờ giúp mở lại mã số thuế cho Công ty T2. Sau khi nhận số tiền trên, Nguyễn Văn C đã chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hành vi chiếm đoạt tổng số tiền 1.220.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn C thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên”. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình là hoàn toàn có căn cứ, đúng các quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Do vậy đối với bị cáo cần phải đưa ra xét xử trước pháp luật mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Tăng nặng: Không.
- - Giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường một phần cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông nội, ngoại tham gia kháng chiến, có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cũng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C đã chiếm đoạt tổng số tiền 1.220.000.000 đồng của anh Trần Hữu C1, đến nay đã trả được 400.000.000 đồng trước khi khởi tố vụ án và 40.000.000 đồng trước phiên tòa còn số tiền 780.000.000 đồng chưa khắc phục, bồi thường nên cần buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường trả cho anh Trần Hữu C1 số tiền 780.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10 (M) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường trả cho anh Trần Hữu C1 số tiền 780.000.000 đồng (Bẩy trăm tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 35.200.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |
Bản án số 366/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 366/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
