TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 366/2023/HS-ST Ngày: 21/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
Ông Nguyễn Đình Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên
Mở phiên tòa công khai ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 346/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1991. Giới tính: Nam. HKTT: Thôn H, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H. Có vợ là Đinh Thùy L và 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bản án số 03/2013/HSST ngày 29/01/2013 của Tòa án huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 05 năm tù về tội: Cướp tài sản, chấp hành xong ngày 17/12/2016.
- + Bản án số 30/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 năm tù, về tội: Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 18/4/2021.
Bị cáo đầu thú. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1990. Giới tính: Nam. HKTT: thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 08/12. Con ông Nguyễn Xuân S và bà Phạm Thị S1. Có vợ là Lương Thu Q và 02 con (Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019). Tiền án: Không.
Tiền sự:
- + Ngày 26/7/2023, bị Công an quận H xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, nộp tiền ngày 26/7/2023.
- + Ngày 04/10/2018, bị Công an huyện C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. (Chưa nộp phạt).
- + Ngày 02/8/2019, bị Công an quận N xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. (Chưa nộp phạt).
Nhân thân:
- + Bản án số 30/2008/HSST ngày 10/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội trộm cắp tài sản.
- + Bản án số 23/2015/HSST ngày 18/03/2015 của Tòa án huyện Chương Mỹ và bản án số 382/2015/HS-PT ngày 17/7/2015 của Tòa án TP Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, chấp hành xong ngày 24/5/2016.
Bị cáo đầu thú. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Văn T3, sinh năm 1998. Giới tính: Nam. HKTT: thôn L, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị C. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: (Đều vắng mặt)
1. Anh Lê Sơn T4, sinh năm 1993 và chị Lê Thị Huyền N, sinh năm 1995. Địa chỉ: D Khu C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.
2. Chị Trịnh Thanh H1 sinh năm 2000. HKTT: Số C Q, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Hiện ở: tổ H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
3. Chị Đào Hoàng G sinh năm 1991. HKTT: Chung cư C-Nàng H, tổ A, phường V, quận H, Hà Nội
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (Đều vắng mặt)
1. Anh Nguyễn Vũ L1, sinh năm 1977. HKTT: Thôn T, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Hiện ở: số E đường N, quận H, thành phố Hà Nội.
2. Bà Phạm Thị S1, sinh năm 1967. HKTT: Thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân T2 thuê nhà tại DV28-LK72 Khu C đất dịch vụ phường Y, quận H, thành phố Hà Nội để mở cửa hàng bán cơm và thuê Nguyễn Văn T, Lê Văn T3 đến giúp việc tại quán cơm của T2. Quá trình làm việc tại quán cơm, Lê Văn T3 và Nguyễn Văn T đã rủ nhau và rủ Nguyễn Xuân T2 đi lấy trộm những chiếc xe đẩy bán hàng rong nước giải khát để để bán lấy tiền chi tiêu, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ sáng ngày 22/8/2023, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Click màu sơn đỏ, không gắn biển kiểm soát (xe của T2) chở T3 ngồi sau cầm theo kìm cộng lực đi loanh quanh trong Khu C đất dịch vụ phường Y, quận H để trộm cắp, khi đi đến khu vực vỉa hè đối diện số F đường Q, thuộc tổ G, phường Y, quận H, TP Hà Nội thì cả hai phát hiện chiếc xe đẩy bán nước giải khát, hoa quả khung làm bằng inox, xung quanh ốp các tấm inox, bên trên gắn kính (được xác định là tài sản của anh Lê Sơn T4, sinh năm 1993. HKTT: xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện ở: DV31-LK816 Khu C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội), đang khóa bằng dây xích để trên vỉa hè. Sau khi quan sát không thấy ai, T dừng xe, còn T3 cầm kìm cộng lực cắt dây xích, sau đó cả hai đi về nhà Trường lấy xe kéo của T2 để chở xe đẩy này ra khu đất trống phía sau trụ sở L2 tại phường P, quận N, thành phố Hà Nội để cất giấu. Đến ngày hôm sau khi quay lại lấy xe thì T3 và T phát hiện chiếc xe đã bị mất, sau đó T3 đã kể lại cho T2 nghe toàn bộ sự việc.
Lần thứ hai: Khoảng 02 giờ sáng ngày 26/8/2023, Nguyễn Xuân T2 nói với T3 là T2 đi trước xem có xe đẩy để ở vỉa hè không có người trông giữ thì T2 sẽ gọi điện cho T3 ra lấy mang về. Sau đó, T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Cup 82 (không đeo biển kiểm soát) đi ra Khu đô thị V, phường P, quận H, Hà Nội. Khi đi đến số I L Khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội thì T2 phát hiện thấy chiếc xe đẩy hình chữ nhật có gắn biển C1 (được xác định là tài sản của chị Trịnh Thanh H1, sinh năm 2000, HKTT: Số C Q, thị trấn V, huyện Ứ, TP . Hà Nội, hiện ở tổ H, phường L, quận H, TP . Hà Nội), không có người trông giữ nên T2 gọi điện cho T3 đến để lấy chiếc xe đẩy trên. Sau đó, T3 gọi T dậy, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Click màu sơn đỏ, không gắn biển kiểm soát chở T3 ngồi sau kéo theo xe kéo đi đến KĐT V, phường P, quận H lấy chiếc xe đẩy mà T2 đã tìm thấy. Khi T và T3 đi đến trước số 21LK 12, KĐT Văn Phú thì T và T3 thấy chiếc xe đẩy, dạng xe đẩy bán bánh mỳ (được xác định là tài sản của chị Đào Hoàng G, sinh năm 1991, HKTT: Chung cư C-Nàng H, tổ A, phường V, quận H, Hà Nội) để ở vỉa hè không khóa, không có người trông giữ. T dừng xe lại rồi cùng T3 khiêng chiếc xe đẩy lên xe kéo chở về nhà Trường. Trên đường đi về thì cả hai gặp T2, T2 nói với T và T3 là “nhầm tủ rồi” và bảo T và T3 đem chiếc xe đẩy bán bánh mỳ của chị Đào Hương G1 về nhà Trường để cất.
Lần thứ ba: Sau khi cất giấu chiếc xe trộm cắp được của chị Đào Hương G1, khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, T tiếp tục điều khiển xe máy chở T3 kéo theo xe đẩy ra số 92 Lacasta KĐT V, Phường P gặp T2 đang chờ. Tại đây, T2, T và T3 khiêng chiếc xe đẩy của chị Trịnh Thanh H1 lên xe kéo, T2 điều khiển xe máy Honda Click chở T3 ngồi sau xe kéo kéo chiếc xe đẩy của chị Trịnh Thanh H1, còn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Cup 82 đi sau về chỗ ở của T2. Tại đây, Trường T5, T3 gỡ bỏ logo của chiếc xe đẩy của chị H1 và mở tủ của xe thì phát hiện bên trong tủ xe đẩy có 01 máy xay sinh tố nhãn hiệu Pananonic Blender, 01 máy ép chậm hoa quả màu xanh nhãn hiệu Roler Model RS-4418 và 01 máy bào đá nhãn hiệu Hongkey, thấy vậy T2 bỏ riêng những đồ trên ra ngoài để sử dụng vào việc bán hàng. Còn chiếc xe đẩy bán bánh mỳ của chị G1, T2 đã bán cho Nguyễn Vũ L1, sinh năm 1977. HKTT: Thôn T, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội, hiện ở: số E đường N, quận H, thành phố Hà Nội được 1.500.000 đồng. T2 chia cho T5 và T3 mỗi người 500.000 đồng và nói cho T5 và T3 biết đó là tiền bán chiếc xe đẩy của chị Đào Hoàng G.
Sau khi biết bị mất trộm tài sản, chị Đào Hoàng G, chị Trịnh Thanh H1 và anh Lê Sơn T4 đã đến Công an trình báo về việc bị trộm cắp tài sản.
Ngày 28/8/2023, Lê Văn T3, Nguyễn Văn T và Nguyễn Xuân T2 đến Công an phường P đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Cùng ngày, Công an phường P chuyển hồ sơ vụ việc của các đối tượng Lê Văn T3, Nguyễn Văn T và Nguyễn Xuân T2 đến Cơ quan CSĐT Công an quận H để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 28/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở tại Dịch vụ 28, LK 72 Khu đất dịch vụ Hòa Bình, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội của Nguyễn Xuân T2.
* Vật chứng của vụ án đã thu giữ
- - 01 (một) xe đẩy kích thước (1,8x1,63x0,6)m có 04 bánh xe để di chuyển, có biển coffee - juice - tea (dạng xe bán đồ uống) bên trong có: 01 (một) máy xay sinh tố nhãn hiệu Panasonic Blender màu trắng, 01 (một) máy ép chậm hoa quả màu xanh nhãn hiệu Roler model RS-4418, 01 (một) máy bào đá nhãn hiệu HongKey bằng kim loại - là tài sản trộm cắp được do Nguyễn Xuân T2 tự nguyện giao nộp.
- - 01 xe máy Honda Click màu đỏ không gắn biển kiểm soát số máy JF18E-0247560, số khung RLHJF1809AY794058; 01 xe máy Cup 82 không gắn biển kiểm soát, số máy VDEJQ139FMB037926; số khung RPEWCB1PEEA 037926 và 01 xe kéo kích thước (0,6x2,5)m là phương tiện các đối tượng sử dụng để đi trộm cắp tài sản - do Nguyễn Xuân T2 tự nguyện giao nộp.
- - 01 Kìm cộng lực bằng kim loại dài 90cm.
- - 01 (một) xe đẩy (dạng xe bán bánh mỳ) kích thước (1,8x0,9x,0,6)m có 04 bánh xe để di chuyển - do anh Nguyễn Vũ L1 tự nguyện giao nộp ngày 28/8/2023.
* Vật chứng của vụ án không thu giữ được: 01 (một) xe đẩy bán hàng nước giải khát, nước hoa quả (kích thước 1,65x1,16x0,8m khung làm bằng inox, xung quanh bọc các tấm inox dày 0,1cm và phía trước gắn kính) của anh Lê Sơn T4.
Ngày 28/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng quận H, định giá đối với tài sản mà Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Văn T và Lê Văn T3 đã trộm cắp được vào các ngày 22 và 26/8/2023. Tại bản kết luận định giá số 218/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng quận H, kết luận:
- - 01 (một) xe đẩy (dạng xe bán bánh mỳ) kích thước (1,8x0,9x,0,6)m có 04 bánh xe để di chuyển có giá trị là: 9.187.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
- - 01 (một) xe đẩy kích thước (1,8x1,63x0,6)m có 04 bánh xe để di chuyển, có biển coffee - juice - tea (dạng xe bán đồ uống) có giá trị: 8.750.000₫ (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- - 01 (một) máy xay sinh tố nhãn hiệu Panasonic Blender màu trắng có giá trị là 2.187.000₫ (Hai triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
- - 01 (một) máy ép chậm hoa quả màu xanh nhãn hiệu Roler model: RS-4418 có giá trị là 2.187.000₫ (Hai triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng);
- - 01 (một) máy bào đá nhãn hiệu HongKey bằng kim loại có giá trị là 570.000đ (Năm trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - 01 (một) xe đẩy bán hàng nước giải khát, nước hoa quả (kích thước 1,65x1,16x0,8m khung làm bằng inox, xung quanh bọc các tấm inox dày 0,1cm và phía trước gắn kính) của anh Lê Sơn T4 (Chưa thu được vật chứng) có giá trị là 5.075.000đ (năm triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản trong vụ trộm cắp là 27.956.000 đồng (Hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Ngày 30/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy đối với xe máy Honda Click màu đỏ không gắn BKS; số máy JF18E-0247560; số khung RLHJF1809AY794058 và xe máy nhãn hiệu Honda Cup 82 không gắn BKS, số máy VDEJQ139FMB037926; số khung RPEWCB1PEEA037926. Tại bản kết luận giám định số 6178/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng K- Công an thành phố H, kết luận:
- 1. Xe mô tô nhãn hiệu HONDA CLICK không đeo biển kiểm soát:
- - Số khung nguyên thủy: RLHJF1809AY794058.
- - Số máy nguyên thủy: JF18E-0247560.
- 2. Xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB không đeo biển kiểm soát:
- - Số khung nguyên thủy: RPEWCB1PEEA ☆037926☆.
- - Số máy nguyên thủy: VDEJQ139FMB☆037926☆.
Ngày 30/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại cho chị Trịnh Thanh H1: 01 (một) xe đẩy kích thước (1,8x1,63x0,6)m có 04 bánh xe để di chuyển, có logo coffee - juice - tea (dạng xe bán đồ uống) cùng với: 01 (một) máy xay sinh tố nhãn hiệu Panasonic Blender màu trắng; 01 (một) máy ép chậm hoa quả màu xanh nhãn hiệu Roler model: RS-4418; 01 (một) máy bào đá nhãn hiệu HongKey bằng kim loại; Trả lại cho chị Đào Hoàng G 01 chiếc xe đẩy, kích thước (1,8x0,9x,0,6)m có 04 bánh xe.
Đối với chiếc xe đẩy bán nước giải khát, hoa quả kích thước 1,65mx1,16mx0,8m khung làm bằng inox, xung quanh ốp các tấm inox, bên trên gắn kính của anh Lê Sơn T4 (chưa thu giữ được), T3 và T khai để ở khu đất trống phía sau trụ sở L2, phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã rà soát và ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa có kết quả.
Đối với chiếc 01 xe máy Honda Click màu đỏ không gắn BKS số máy JF18E-0247560, số khung RLHJF1809AY794058, chiếc xe này là vật chứng của vụ trộm cắp tài ản xảy ra tại quận T, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu để chuyển chiếc xe trên cho Công an quận T để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Cup 82, không gắn biển kiểm soát số máy VDEJQ139FMB037926; số khung RPEWCB1PEEA037926, qua tra cứu đăng ký mang tên bà Phạm Thị S1, xe có BKS là: 26AA-009.21, xe không nằm trong dữ liệu vật chứng, bà Phạm Thị S1 (là mẹ đẻ của T2) cho Nguyễn Xuân T2 mượn từ đầu tháng 8/2023 để đi lại, T2 sử dụng làm phương tiện để thực hiện tội phạm, Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng sang Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Vũ L1 là người đã mua chiếc xe đẩy của chị Đào Hoàng G. Anh L1 không biết chiếc xe trên là xe trộm cắp mà có do vậy không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Vũ L1 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trịnh Thanh H1 và Đào Hoàng G nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Gia đình Lê Văn T3 đã bồi thường cho chị Lê Thị Huyền N (là vợ anh Lê Sơn T4) số tiền 5.800.000 đồng, chị N đã nhận tiền không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn T3. Anh Nguyễn Vũ L1 đã được bồi thường số tiền 1.500.000 đồng và không có đề nghị bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số 343/CT-VKS-HĐ ngày 03/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân T2 và Lê Văn T3 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Xuân T2 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Văn T3 từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
- - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chị Trịnh Thanh H1 và Đào Hoàng G nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị ghi nhận. Gia đình Lê Văn T3 đã bồi thường cho chị Lê Thị Huyền N (là vợ anh Lê Sơn T4) số tiền 5.800.000 đồng, chị N đã nhận tiền không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn T3 nên đề nghị ghi nhận. Anh Nguyễn Vũ L1 đã được bồi thường số tiền 1.500.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên đề nghị ghi nhận.
- - Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Cup 82, không gắn biển kiểm soát số máy VDEJQ139FMB037926; số khung RPEWCB1PEEA037926 là xe của bà S1 do bị cáo T2 sử dụng, bà S1 không biết T2 sử dụng để phạm tội nên đề nghị trả lại cho bà S1. Đối với 01 chiếc kìm cộng lực và 01 chiếc xe kéo là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo xin hưởng hình phạt thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 22/8/2023 và 26/8/2023, Lê Văn T3 và Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lê Sơn T4 01 (một) chiếc xe đẩy bán nước giải khát trị giá 5.075.000 đồng tại khu vực tổ G, phường Y, quận H; chiếm đoạt của chị Đào Hoàng G 01 (một) xe đẩy (dạng xe bán bánh mỳ) trị giá 9.187.000 đồng tại trước số 21LK12, khu đô thị V, phường P, quận H. Sau đó T3, T và T2 cùng lén lút chiếm đoạt của chị Trịnh Thanh H1 01 chiếc xe đẩy trị giá 8.750.000đ, 01máy xay sinh tố nhãn hiệu Panasonic Blender màu trắng trị giá 2.187.000đ; 01 máy ép chậm hoa quả màu xanh nhãn hiệu Roler model: RS-4418 trị giá 2.187.000đ; 01 máy bào đá nhãn hiệu HongKey bằng kim loại trị giá 570.000đ. Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là 27.956.000 đồng (hai mươi bẩy triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.
[3] Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân; gây mất trật tự trị an trong khu vực; làm quần chúng nhân dân lo lắng, bất bình. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia với vai trò người thực hành, vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
Nguyễn Văn T, Lê Văn T3 và Nguyễn Xuân T2 đều thực hiện 02 hành vi “Trộm cắp tài sản” trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn T và Nguyễn Xuân T2 đều có nhân thân xấu, đã từng vi phạm pháp luật nhiều lần vì vậy cần có hình phạt nghiêm đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đều được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T3 lần đầu phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Chị Trịnh Thanh H1 và Đào Hoàng G nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên cần ghi nhận. Gia đình Lê Văn T3 đã bồi thường cho chị Lê Thị Huyền N (là vợ anh Lê Sơn T4) số tiền 5.800.000 đồng, chị N đã nhận tiền không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn T3 nên cần ghi nhận. Anh Nguyễn Vũ L1 đã được bồi thường số tiền 1.500.000 đồng và không có đề nghị bồi thường gì khác nên cần ghi nhận.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Cup 82, không gắn biển kiểm soát số máy VDEJQ139FMB037926; số khung RPEWCB1PEEA037926, qua tra cứu đăng ký mang tên bà Phạm Thị S1, xe có BKS là: 26AA-009.21, xe không nằm trong dữ liệu vật chứng, bà Phạm Thị S1 (là mẹ đẻ của T2) cho Nguyễn Xuân T2 mượn từ đầu tháng 8/2023 để đi lại, bà S1 không biết T2 sử dụng làm phương tiện để thực hiện tội phạm nên cần tuyên trả lại cho bà S1.
Đối với 01 chiếc kìm cộng lực bằng kim loại dài 90cm và 01 xe kéo kích thước (0,6x2,5)m là phương tiện, công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Văn T, Lê Văn T3 và phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Nguyễn Xuân T2 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Nguyễn Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Lê Văn T3 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật dân sự:
- + Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trịnh Thanh H1 và chị Đào Hoàng G về việc đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về phần dân sự.
- + Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Huyền N về việc đã nhận số tiền 5.800.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì khác.
- + Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Vũ L1 về việc đã được bồi thường số tiền 1.500.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
- + Trả lại bà Phạm Thị S1 01 chiếc xe Honda Cup 82, không gắn biển kiểm soát, số máy VDEJQ139FMB037926; số khung RPEWCB1PEEA037926.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm cộng lực bằng kim loại dài 90cm và 01 xe kéo kích thước (0,6x2,5)m.
(Hiện trạng tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2023 giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Văn T, Lê Văn T3 và Nguyễn Xuân T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Diệp Linh |
Bản án số 366/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 366/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGuyễn Văn T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
