Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 336/2025/HSST

Ngày 10/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên;
  • Bà Vương Thị Khánh Loan;
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lâm Thị Thảo;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 332/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 621/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đinh Ngọc Ý V (Tên gọi khác: không), sinh ngày 24/11/2007, tại Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: tổ F, khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện nay: 772 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Chung D, sinh năm 1985 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1986; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có chồng con (hiện bị cáo đang mang thai); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.

  • ❖ Đại diện hợp pháp của bị cáo V: Bà Đinh Thị H, sinh năm 1986 - có mặt;
  • Địa chỉ: G đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • Người bào chữa cho bị cáo V: Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ;

2. Nguyễn Anh T (Tên gọi khác: không), sinh năm 2002, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ B, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 02/10/2024, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực B - Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh T và Đinh Ngọc Ý V là bạn quen biết nhau và cùng là người sử dụng trái phép chất ma tuý.

Từ ngày 01/9/2024 đến ngày 01/10/2024, V và T có hành vi 02 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý trong phòng ngủ của T tại căn nhà không số thuộc tổ B, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể:

Lần thứ nhất:

Khoảng 14 giờ ngày 01/9/2024, V đến nhà T (địa chỉ nêu trên) chơi. V rủ T góp tiền mua ma tuý sử dụng, T đồng ý. T và V mỗi người góp 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) được số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đưa cho V. Sau đó, V cầm số tiền trên đi đến Khu C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp đối tượng tên “Bảo Trân” (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng khay) với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, V mang gói ma tuý trên về phòng ngủ của T và nói cho T biết đã mua được ma tuý. T lấy 01 đĩa sứ, 01 bật lửa, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng) của T để làm dụng cụ sử dụng ma tuý. Vy đổ gói ma tuý (hàng khay) ra đĩa, dùng bật lửa hơ nóng ma tuý lên, dùng thẻ nhựa cán nhuyễn, cuộn tròn tờ 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) làm thành ống hút cho V và T cùng hít ma tuý trực tiếp vào mũi, V và T cùng sử dụng hết số ma tuý nêu trên.

Lần thứ hai:

Khoảng 16 giờ ngày 30/9/2024, V sử dụng điện thoại di động truy cập ứng dụng M gọi đối tượng “Bảo Trân” hỏi mua 01 gói ma tuý (hàng khay) với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), “Bảo Trân” đồng ý và hẹn giao ma tuý tại Khu C, phường L, thành phố B. Khoảng 16 giờ 22 phút cùng ngày, V đến điểm hẹn gặp “Bảo Trân” nhận 01 gói ma tuý (hàng khay), V đã trả “Bảo Trân” 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, V mang gói ma tuý trên đến nhà T (địa chỉ nêu trên) xin ngủ nhờ, rồi đi lên phòng ngủ của T.

Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, V rủ T cùng sử dụng ma tuý, T đồng ý. T chuẩn bị 01 đĩa sứ, 01 bật lửa, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng) của T đặt xuống nền phòng ngủ. Vy đổ một phần gói ma tuý (hàng khay) ra đĩa, dùng bật lửa hơ nóng ma tuý lên rồi dùng thẻ nhựa cán nhuyễn cho V và T thay nhau sử dụng.

Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, khi V và T đang tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng ngủ của T (địa chỉ nêu trên) thì bị Công an phường P kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Công an phường P đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

❖ Vật chứng vụ án:

  • - 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất màu trắng; 01 đĩa sứ và 01 thẻ nhựa có bám dính chất màu trắng đã được niêm phong có chữ ký của bị cáo Nguyễn Anh T, Đinh Ngọc Ý V và hình dấu tròn đỏ của Công an phường P.
  • - 01 bật lửa gas, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) là dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số Imei: 352840111298132 của V sử dụng vào việc phạm tội.

❖ Tại Kết luận giám định số 1964/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • “- Mẫu chất màu trắng bám trên đĩa sứ (Mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu chất màu trắng bám trên thẻ nhựa (Mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu chất màu trắng (Mẫu M3) được niêm phong gửi đến giám định là chất ma tuý, có khối lượng 0,4651gam, loại Ketamine”.

❖ Tại Kết luận giám định số 2058/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

“Mẫu máu của Nguyễn Anh T (2002) được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Ketamine và sản phẩm chuyển hoá của Ketamine trong máu".

❖ Kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 01/10/2024 tại Công an phường P: Đinh Ngọc Ý V dương tính với ma tuý đá.

❖ Tại Bản Cáo trạng số 348/CT-VKSBH ngày 08 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố:

  • - Bị cáo Đinh Ngọc Ý V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau:

  • + Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; Riêng V đang mang thai nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đinh Ngọc Ý V là người dưới 18 tuổi phạm tội nên được áp dụng các quy định tại chương XII Bộ luật hình sự;

  • + Tình tiết tăng nặng: không.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

  • - Bị cáo Đinh Ngọc Ý V mức án từ 05 năm 02 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù.
  • - Bị cáo Nguyễn Anh T mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù;

❖ Người bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc Ý Vy trình bày:

Thống nhất với tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên tâm lý, nhận thức chưa ổn định; đề nghị xem xét, phân hóa vai trò của bị cáo trong vụ án để cho bị cáo hưởng mức án thấp dưới khung hình phạt.

❖ Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

❖ Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Từ ngày 01/9/2024 đến ngày 01/10/2024, tại phòng ngủ của Nguyễn Anh T trong căn nhà không số thuộc tổ B, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đinh Ngọc Ý V (sinh ngày 24/11/2007) và Nguyễn Anh T đã 02 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể:

Lần 1: Vào khoảng 15 giờ ngày 01/9/2024, V và T có hành vi 01 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý.

Lần 2: Vào khoảng 01 giờ ngày 01/10/2024, V và T có hành vi 01 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì bị Công an phường P kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

  • - Đinh Ngọc Ý V là người rủ, trực tiếp đi mua, cung cấp ma tuý và 02 lần tổ chức cho Nguyễn Anh T sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • - Nguyễn Anh T là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma tuý, góp tiền mua ma tuý (01 lần) và 02 lần tổ chức cho Đinh Ngọc Ý V sử dụng trái phép chất ma tuý.

Hành vi của bị cáo Đinh Ngọc Ý V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với đối tượng tên “Bảo Trân” (không rõ lai lịch) có hành vi bán trái phép chất ma túy cho V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Xuân T1 (sinh năm 1978, bố của T) là chủ căn nhà không số tổ 29, khu P, phường P, thành phố B. Ông T1 không biết T sử dụng phòng ngủ trong căn nhà trên làm nơi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên không xử lý.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo V đang mang thai nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên được áp dụng các quy định tại chương XII Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã nêu trên, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 1926/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma tuý, 01 thẻ nhựa và 01 đĩa sứ; 01 bật lửa gas là công cụ các bị cáo sử dụng phạm tội do không còn giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số Imei: 352840111298132 của V; Số tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) của T do sử dụng vào việc phạm tội.

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Đinh Ngọc Ý V);

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Anh T);

Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo:

Đinh Ngọc Ý V, Nguyễn Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Ý V 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giam, tạm giữ trước đó từ ngày 02/10/2024 đến ngày 04/10/2024 và từ ngày 25/3/2025 đến ngày 26/3/2025.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/10/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • + 01 gói niêm phong số 1926/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma tuý, 01 thẻ nhựa và 01 đĩa sứ.
  • + 01 bật lửa gas là công cụ các bị cáo sử dụng phạm tội do không còn giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số Imei: 352840111298132 của V;
  • + Số tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) của T do sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Quốc Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 336/2025/HSST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 336/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt V 05 năm 03 tháng tù; T 07 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger