|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 366/2024/HSST Ngày: 27/11/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Thống và bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Êban – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27/11/2024 tại Hội trường A - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 367/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Trung Ng (B), sinh năm 1981, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: 44/11/7 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hồ D (Chết); Con bà: Võ Thị Mai H, sinh năm: 1958; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố B từ ngày 19/6/2024 cho đến nay, Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hàn Thị Thanh V, sinh năm: 1989 và ông Hàn Đông S, sinh năm: 2000; Đều ở địa chỉ: 49/26 đường T, tổ 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1966 và ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1996; Đều ở địa chỉ: 40 đường N, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim Á, sinh năm: 1981; Địa chỉ: 07 đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồ Trung Ng, Hàn Đông S và Nguyễn Văn B là bạn của nhau và là những người sử dụng ma tuý loại Methamphetamine hay còn gọi là ma tuý đá. Khoảng 10 giờ ngày 19/6/2024, Ng đón xe ôm (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi đến khu vực nghĩa trang cuối đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, Ng gặp một người nam giới tên B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng để sử dụng. Mua ma tuý xong, Ng tiếp tục đón xe ôm đi về nhà tại số 44/11/7 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá rồi đi bộ đến quán cà phê G ở địa chỉ số 71 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để sử dụng ma tuý đá. Tại đây, Ng dùng mảnh kim loại (lưỡi dao rọc giấy gãy) cắt gói ma tuý đá rồi bỏ vào đầu một ống thuỷ tinh uốn cong (gọi là Nỏ), dùng bật lửa đốt, hít ma tuý đá vào cơ thể.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, lần lượt có Hàn Đông S điều khiển xe Mô tô biển số 47B1- 089.16 và Nguyễn Văn B điều khiển xe Mô tô biển số 47B1- 477.91 đến quán cà phê G. Lúc này, Ng rủ S và B cùng sử dụng ma tuý đá thì cả hai đồng ý rồi tự đốt, hít ma tuý đá vào cơ thể cùng với Ng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ng cùng S và B đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện, xử lý.
Tại bản Kết luận giám định số 909/KL-KTHS, ngày 26/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
Chất bám dính dạng tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, vì lượng chất bám dính màu trắng rất ít, nên không xác định được khối lượng.
Chất bám dính màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0348gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 371/CT-VKS-HS ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Hồ Trung Ng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Trung Ng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự như nội dung bản Cáo trạng số: 371/CT-VKS-HS ngày 07/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trung Ng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Trung Ng mức án từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù.
*/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về phần xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật dụng và bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một hộp giấy ghi số 909/KL-KTHS và ghi “vật dụng và bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu vụ Hồ Trung Ng – BMT”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Bá H, Nguyễn Anh T và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk; 03 chiếc bật lửa; 01 hộp nhựa màu nâu và 01 mảnh kim loại (lưỡi dao rọc giấy gãy) không còn giá trị sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Trung Ng.
Đề nghị trả lại 01 điện thoại di động, kiểu dáng Huawei, màu xanh, số Imei: 865209042006727, không gắn sim, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Nokia, màu đen, số Imei: 356878075272368, gắn sim số 0946.394.769 và 0935.889.877, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Hồ Trung Ng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử và thi hành án.
Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả 01 điện thoại di động, kiểu dáng Samsung màu đen, số Imei: 3573685833400122/01, gắn sim số 0838.999.096 và 0865.716.758, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Iphone màu vàng, số Imei: 357286093673519, gắn sim số 0865.716.758, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Samsung màu đen, số Imei: 352845143420265/01, gắn sim số 0914.085.034; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Nokia màu xám đen, số Imei: 352879103356680, gắn sim số 0562.032.204, đã qua sử dụng là tài sản của anh Hàn Đông S và anh Nguyễn Văn B, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Trung Ng. Nên trả lại cho anh S và anh B.
Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại 01 xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47B1 – 089.15, đã qua sử dụng là của bà Hàn Thị Thanh V là chị ruột của anh Hàn Đông S. Ngày 19/6/2024, anh S mượn xe Mô tô trên của bà V rồi điều khiển xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, việc anh S sử dụng xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà V không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô trên cho bà V nhận quản lý sử dụng.
Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 47B1- 477.91, đã qua sử dụng, chiếc xe trên là của ông Nguyễn Văn T là bố ruột của anh Nguyễn Văn B. Ngày 19/6/2024, anh B mượn xe Mô tô trên của ông T rồi điều khiển xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, việc anh B sử dụng xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý thì ông T không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô trên cho ông T nhận quản lý, sử dụng.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Hồ Trung Ng đã khai nhận: Vào ngày 19/6/2024, tại quán cà phê G ở địa chỉ số 71 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Hồ Trung Ng cung cấp công cụ, ma tuý loại Methamphetamine tổ chức cho Hàn Đông S, Nguyễn Văn B cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện xử lý.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hồ Trung Ng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồ Trung Ng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
- “ Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
-
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
- a)............;
- b) Đối với 02 người trở lên.”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm sự thống nhất quản lý ma túy của Nhà nước, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện nặng làm hủy hoại sức khỏe con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự như cướp giật, trộm cắp..... Hiện nay, loại tội phạm về ma túy đang diễn ra phức tạp, nhất là đối với tầng lớp thanh, thiếu niên, tệ nạn này vẫn đang là mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội. Một trong những biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy là việc xử lý các hành vi phạm tội về ma túy thật nghiêm khắc. Do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo Hồ Trung Ng cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để cùng Hàn Đông S, Nguyễn Văn B cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý tại quán cà phê G. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra và xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Nên cần chấp nhận.
Đối với đối tượng có tên B là người bán ma tuý cho bị cáo Hồ Trung Ng tại khu vực nghĩa địa cuối đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và người chạy xe ôm chở bị cáo Ng đi mua ma tuý. Qua điều tra đến nay vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này, nên Cơ quan điều tra tách hành vi của các đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với Hàn Đông S, Nguyễn Văn B là người cùng sử dụng ma tuý với bị cáo Hồ Trung Ng. Tuy nhiên, S và B không đồng phạm với hành vi phạm tội của bị cáo Ng, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với S và B là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với bà Nguyễn Thị Kim Á là chủ quán cà phê G ở địa chỉ số 71 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bà Á có đơn trình báo vụ việc, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà Á là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Hồ Trung Ng, Hàn Đông S và Nguyễn Văn B. Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên cần chấp nhận.
[4] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về phần xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật dụng và bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một hộp giấy ghi số 909/KL-KTHS và ghi “vật dụng và bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu vụ Hồ Trung Ng – BMT”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Bá H, Nguyễn Anh T và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk; 03 chiếc bật lửa; 01 hộp nhựa màu nâu (dạng hộp đựng kính) và 01 mảnh kim loại (lưỡi dao rọc giấy gãy) không còn giá trị sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Trung Ng.
Cần trả lại 01 điện thoại di động, kiểu dáng Huawei, màu xanh, bị vỡ màn hình, quấn băng keo màu đen viền quanh, không gắn sim, số Imei: 865209042006727, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Nokia, màu đen, số Imei: 356878075272368, gắn sim số 0946.394.769 và 0935.889.877, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Hồ Trung Ng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo. (không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, không kiểm tra số sim).
Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả 01 điện thoại di động, kiểu dáng Samsung màu đen, số Imei: 3573685833400122/01, gắn sim số 0838.999.096 và 0865.716.758, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Iphone màu vàng, số Imei: 357286093673519, gắn sim số 0865.716.758, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Samsung màu đen, số Imei: 352845143420265/01, gắn sim số 0914.085.034; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Nokia màu xám đen, số Imei: 352879103356680, gắn sim số 0562.032.204, đã qua sử dụng là tài sản của anh Hàn Đông S và anh Nguyễn Văn B, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Trung Ng. Nên trả lại cho anh S và anh B nhận quản lý, sử dụng.
Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47B1 – 089.15, đã qua sử dụng là của bà Hàn Thị Thanh V là chị ruột của anh Hàn Đông S. Ngày 19/6/2024, anh S mượn xe Mô tô trên của bà V rồi điều khiển xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, việc anh S sử dụng xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà V không biết nên trả lại xe Mô tô trên cho bà V nhận quản lý sử dụng.
Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 47B1 – 477.91, đã qua sử dụng, chiếc xe trên là của ông Nguyễn Văn T là bố ruột của anh Nguyễn Văn B. Ngày 19/6/2024, anh B mượn xe Mô tô trên của ông T rồi điều khiển xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, việc anh B sử dụng xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý thì ông T không biết nên trả lại xe Mô tô trên cho ông T nhận quản lý, sử dụng.
[5] Về án phí: Bị cáo Hồ Trung Ng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trung Ng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Trung Ng 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2024.
*/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về phần xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật dụng và bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một hộp giấy ghi số 909/KL-KTHS và ghi “vật dụng và bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu vụ Hồ Trung Ng – BMT”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Bá H, Nguyễn Anh T và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk; 03 chiếc bật lửa; 01 hộp nhựa màu nâu (dạng hộp đựng kính) và 01 mảnh kim loại (lưỡi dao rọc giấy gãy) không còn giá trị sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Trung Ng.
Trả lại 01 điện thoại di động, kiểu dáng Huawei, màu xanh, bị vỡ màn hình, quấn băng keo màu đen viền quanh, không gắn sim, số Imei: 865209042006727, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Nokia, màu đen, số Imei: 356878075272368, gắn sim số 0946.394.769 và 0935.889.877, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Hồ Trung Ng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo. (không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, không kiểm tra số sim).
(Về vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/11/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả 01 điện thoại di động, kiểu dáng Samsung màu đen, số Imei: 3573685833400122/01, gắn sim số 0838.999.096 và 0865.716.758, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Iphone màu vàng, số Imei: 357286093673519, gắn sim số 0865.716.758, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Samsung màu đen, số Imei: 352845143420265/01, gắn sim số 0914.085.034; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Nokia màu xám đen, số Imei: 352879103356680, gắn sim số 0562.032.204, đã qua sử dụng là tài sản của anh Hàn Đông S và anh Nguyễn Văn B, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Trung Ng. Nên trả lại cho anh S và anh B nhận quản lý, sử dụng.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47B1 – 089.15, đã qua sử dụng là của bà Hàn Thị Thanh V là chị ruột của anh Hàn Đông S. Ngày 19/6/2024, anh S mượn xe Mô tô trên của bà V rồi điều khiển xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, việc anh S sử dụng xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà V không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô trên cho bà V nhận quản lý sử dụng.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 47B1 – 477.91, đã qua sử dụng, chiếc xe trên là của ông Nguyễn Văn T là bố ruột của anh Nguyễn Văn B. Ngày 19/6/2024, anh B mượn xe Mô tô trên của ông T rồi điều khiển xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, việc anh B sử dụng xe đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý thì ông T không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe Mô tô trên cho ông T nhận quản lý, sử dụng.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Trung Ng phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 366/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 366/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Trung Ng phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
