Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 366/2024/DS-PT

Ngày: 12 - 9 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

thành quả lao động và bồi thường thiệt hại

về tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Út

Bà Châu Minh Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 235/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động, bồi thường thiệt hại về tài sản”.

Do bản dân sự sơ thẩm số: 121/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 210/2024/QĐXX-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lâm Minh T, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Số G, ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số A đường Đ, khóm B, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Văn bản ủy quyền ngày 19/8/2024)

- Bị đơn: Ông Hứa Văn T1, sinh năm 1968

Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ cư trú: Số A, ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Anh T3, sinh năm 1952; Địa chỉ: Khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Văn bản ủy quyền ngày 26/8/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. 1/ Ông Lâm Minh T4, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  2. 2/ Ông Lâm Minh S, sinh năm 1954; Địa chỉ cư trú : Số A, Rạch R, khóm B, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  3. 3/ Ông Lâm Minh T5, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  4. 4/ Ông Lâm Minh T6, sinh năm 1979; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  5. 5/ Bà Lâm Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  6. 6/ Bà Lâm Diễm P; Địa chỉ cư trú: Số A, C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
  7. 7/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  8. 8/ Văn phòng T8

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Việt Q, sinh năm 1972.

Nơi cư trú: Số B, Ngô Gia T7, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau – Là Trưởng Văn phòng.

- Người kháng cáo: Ông Lâm Minh T, là nguyên đơn.

Tại phiên tòa: ông K, ông T3, ông T4, ông S, ông T6, bà L có mặt; các đương sự khác vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày:

Căn nhà số A, tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C có hiện trạng trước khi bị ông T1 và bà T2 đập xây dựng lại là lầu đúc có đổ tấm, ngang 06m, dài từ lộ xuống ven sông. Căn nhà trên có nguồn gốc của ông Lâm Thành P1 và bà Thạch Thị B. Ông P1 và bà B chết cùng năm 2007, khi chết ông P1, bà B không để lại di chúc hợp pháp. Sau khi ông P1 chết thì ông Lâm Minh T4 quản lý trông coi căn nhà này, sau đó ông T4 bán căn nhà này cho ông T1 và bà T2, khi ông T hay thì ông T có ngăn cản không đồng ý việc mua bán vì việc mua bán trên là không hợp pháp nhưng ông T4, ông T1, bà T2 vẫn cố tình thực hiện. Sau khi nhận nhà, vợ chồng ông T1 và bà T2 đập toàn bộ căn nhà tiến hành xây mới, trong khi xây dựng ông T có trình báo với địa phương, địa phương đã buộc vợ chồng T1 và bà T2 tạm dừng thi công.

Từ nội dung trên, ông T yêu cầu: Hủy hợp đồng mua bán căn nhà số A tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau được thể hiện tại văn bản thỏa thuận và mua bán nhà và nhượng thành quả lao động trên đất bảo lưu ven sông

ngày 25/7/2022, ngày 18/8/2022 và Vi bằng lập ngày 18/8/2022 của Văn phòng T8. Yêu cầu ông T1 và bà T2 bồi thường thiệt hại cho ông T số tiền 700.000.000 đồng, do ông T không được ưu tiên mua căn nhà là di sản của ông Lâm Thành P1 và bà Thạch Thị B.

- Quá trình giải quyết vụ án, ông Hứa Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T với lý do: Căn nhà số A tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau nằm trên đất bảo lưu ven sông, không được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Năm 2022 vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng căn nhà trên từ ông T4, ông S, bà L, ông T5, ông T6. Khi chuyển nhượng phía ông T4, ông S, bà L, ông T5, ông Tó có cung cấp cho vợ chồng ông tờ di chúc do ông Lâm Thành P1 lập năm 2007. Sau khi chuyển nhượng ông, bà đã trả tiền xong cho các người trên là 1.500.000.000 đồng. Ông, bà đã nhận nhà, tiến hành sửa chữa, xây dựng lại nhà thì nguyên đơn ngăn cản.

Vì vậy ông Hứa Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 có yêu cầu phản tố: Yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán nhà; Yêu cầu buộc nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở xây dựng.

Tại phiên tòa ông Hứa Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 xác định rút lại yêu cầu phản tố.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Việt Q trình bày: Ngày 18/8/2022 ông Hứa Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 có đến Văn phòng T8 yêu cầu lập lập Vi bằng về việc giao nhận tiền giữa ông T1, bà T2 với ông Lâm Minh T4, Lâm Minh S, Lâm Minh T6, Lâm Minh T5, bà Lâm Thị L.

Sau khi kiểm tra giấy tờ tùy thân của người yêu cầu lập vi bằng, của người tham gia lập vi bằng, của người chứng kiến. Thừa phát lại có giải thích quy định của pháp luật, vi bằng không phải là văn bản công chứng, không có giá trị thay thế văn bản công chứng.

Lúc 10 giờ 20 phút, ngày 18/8/2022 Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến ông Hứa Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 trực tiếp giao tiền mặt với số tiền 1.400.000.000 đồng cho ông Lâm Minh T4, ông Lâm Minh S, bà Lâm Thị L, ông Lâm Minh T5, ông Lâm Minh T6 nhận, có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị M.

Ngay sau đó, Thừa phát lại có chứng kiến ông Lâm Minh T4, ông Lâm Minh S, bà Lâm Thị L, ông Lâm Minh T5, ông Lâm Minh T6 trực tiếp kiểm tra, đếm, tuyên bố đã nhận đủ tiền 1.400.000.000 đồng do ông Hứa Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 giao, có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị M.

Việc ông Hứa Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 trực tiếp giao tiền mặt với số tiền 1.400.000.000 đồng cho ông Lâm Minh T4, ông Lâm Minh S, bà Lâm Thị L, ông Lâm Minh T5, ông Lâm Minh T6 nhận, có sự chứng kiến của bà Nguyễn

Thị M, Thừa phát lại tiến hành lập vi bằng, vi bằng được lập kết thúc lúc 10 giờ 30 phút ngày 18/8/2022. Vi bằng ghi nhận là trung thực, khách quan sự kiện, hành vi được nêu tại vi bằng, lập đúng quy định của pháp luật.

Vi bằng lập ngày 18/8/2022 là đúng quy định của pháp luật, vì vậy Nguyên đơn yêu cầu hủy Vi bằng ngày 18/8/2022 thì Văn phòng T8 không đồng ý.

Bà Nguyễn Thị M trình bày: Trước đây giữa bà và ông Lâm Minh T4 với ông Hứa Văn T1 có ký văn bản bản thỏa thuận mua bán nhà và nhượng thành quả lao động trên đất bảo lưu ven sông. Ngày 09/6/2022 âm lịch bà và ông T4 có nhận của ông T1 số tiền đặt cọc chuyển nhượng căn nhà và đất bảo lưu ven sông T, ấp A, xã T, thành phố C là 200.000.000 đồng, sau đó đến ngày 18/8/2022 giữa các bên có đến Văn phòng T8 để lập vi bằng về việc giao nhận tiền nên bà và ông T4 có đem theo 200.000.000 đồng này cộng với ông T1 bà T2 giao thêm số tiền là 1.200.000.000 đồng nên lập vi bằng tổng số tiền là 1.400.000.000 đồng, sau khi lập vi bằng các bên đã giao nhận tiền xong và bà với ông T4 đã giao nhà và đất cho ông T1 và bà T2 quản lý sử dụng. Nay nguyên đơn yêu cầu hủy các văn bản liên quan đến việc giao nhận tiền và hủy vi bằng được lập ngày 18/8/2022 của Văn phòng T8 bà M không đồng ý.

Tại biên bản hòa giải ngày 05/7/2023, và quá trình giải quyết vụ án ông Lâm Minh T4, ông Lâm Minh S, bà Lâm Thị L trình bày:

Ông T4, ông S, ông T6, bà L thừa nhận có việc mua bán căn nhà số A, tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, giá trị căn nhà, bàn giao nhà như ông T1, bà T2 trình bày. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông T4, ông S, bà L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý theo ý kiến của bị đơn.

Tại biên bản hòa giải ngày 05/7/2023, và quá trình giải quyết vụ án ông Lâm Minh T6 trình bày: Ông T6 thừa nhận có việc mua bán căn nhà số A, tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, giá trị căn nhà, bàn giao nhà như ông T1, bà T2 trình bày. Tại phiên hòa giải ông T6 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý theo ý kiến của bị đơn. Tuy nhiên tại phiên tòa ông T6 trình bày, do ông T4 không chia tiền cho ông T6 sau khi bán nhà cho ông T1 và bà T2, vì vậy ông T6 yêu cầu hủy hợp đồng mua bán căn nhà số A tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Bà Lâm Diễm P, ông Lâm Minh T5: Ông T5 và bà P vắng mặt trong suốt quá trình gải quyết vụ án, nhưng cũng không gửi Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự số: 121/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Minh T về việc hủy hợp đồng mua bán căn nhà số A tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau được thể hiện tại văn bản thỏa thuận và mua bán nhà và nhượng thành quả lao

động trên đất bảo lưu ven sông ngày 25/7/2022, ngày 18/8/2022 và Vi bằng lập ngày 18/8/2022 của Văn phòng T8.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Minh T về việc buộc ông Hứa Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 bồi thường thiệt hại cho ông Lâm Minh T số tiền 700.000.000 đồng.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 03/6/2024 bị đơn ông Lâm Minh T kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 05/6/2024 ông Lâm Minh T có đơn kháng cáo bổ sung, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do khởi kiện không đúng đối tượng, ông sẽ tiến hành khởi kiện thành vụ án khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Minh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Tại phiên toà ông Lâm Minh T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, người đại diện ông T đề nghị nếu thỏa thuận giải quyết hậu quả được với bị đơn thì sẽ rút yêu cầu khởi kiện, lý do rút yêu cầu là xác định chưa đúng đối tượng khởi kiện. Phía bị đơn là ông T1 và bà T2 không đồng ý với việc ông T rút đơn khởi kiện cũng như thoả thuận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 234 Bộ luật tố tụng không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của ông T.

[2]. Xét kháng cáo đề nghị huỷ án sơ thẩm với lý do khởi kiện không đúng đối tượng, ông T cho rằng đối tượng tượng khởi kiện của ông là ông T4 và các anh em của ông về vấn đề tranh chấp vụ án thừa kế, không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động và bồi thường thiệt hại với ông T1 và bà T2. Qua xem xét đơn khởi kiện của ông T thể hiện nội dung ông T khởi kiện đề nghị huỷ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động giữa ông T4 và ông T1 bà T2 và đề nghị bồi thường thiệt hại về việc ông T1 và bà T2 tháo dỡ nhà sau khi ông T1 bà T2 đã chuyển nhượng nhà đất từ ông T4, được sự đồng ý của ông Lâm Minh S, bà Lâm Thị L, ông Lâm Minh T5, ông Lâm Minh T6. Quá trình giải quyết vụ án phía ông T khẳng định không tranh chấp vụ án thừa kế (BL 374), không đề nghị giám định di chúc (BL 200), chỉ yêu cầu huỷ hợp đồng và bồi thường thiệt hại do không được ưu tiên mua nhà (BL 94). Từ căn cứ này cấp sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng thành

quả lao động và bồi thường thiệt hại về tài sản. Như vậy, phía ông T cho rằng kiện không đúng đối tượng là chưa phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ. Mối quan hệ tranh chấp giữa ông T và ông T1 bà T2 là liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động là đã đúng đối tượng bị kiện. Vấn đề nguyên đơn rút đơn khởi kiện nhưng không được bị đơn đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T huỷ án và đình chỉ giải quyết vụ án do không đúng đối tượng khởi kiện. Ông T khẳng định đối tượng khởi kiện của ông là ông T4 và mối quan hệ tranh chấp là tranh chấp thừa kế thì ông T có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Minh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như nhận định trên quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận.

[4]. Về án phí

[4.1]. Án phí sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch ông Lâm Minh T phải nộp 300.000 đồng, án phí dân sự có giá ngạch ông Lâm Minh Tấn T phải nộp 32.000.000 đồng. Ông T đã dự nộp 18.300.000 đồng được đối trừ, ông T phải nộp tiếp 14.000.000 đồng, cấp sơ thẩm buộc ông T phải nộp là 13.400.000 đồng nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.

[4.2]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, căn cứ Điều 29 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ông Lâm Minh T phải chịu án phí là 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.

[5]. Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Minh T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Căn cứ Điều 385, 500, 129 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 167 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Minh T về việc hủy hợp đồng mua bán căn nhà số A tọa lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau được thể hiện tại văn bản thỏa thuận và mua bán nhà và nhượng thành quả lao

động trên đất bảo lưu ven sông ngày 25/7/2022, ngày 18/8/2022 và Vi bằng lập ngày 18/8/2022 của Văn phòng T8.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Minh T về việc buộc ông Hứa Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 bồi thường thiệt hại cho ông Lâm Minh T số tiền 700.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch ông Lâm Minh T phải nộp 300.000 đồng, án phí dân sự có giá ngạch ông Lâm Minh Tấn T phải nộp 32.000.000 đồng. Ngày 12/6/2023 ông Lâm Minh T đã dự nộp 18.300.000 đồng nên đối trừ, ông Lâm Minh T phải nộp tiếp 14.000.000 đồng.

Án phí phúc thẩm: ông Lâm Minh T phải chịu 300.000 đồng, ông T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0008776 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân TP Cà Mau;
  • - Chi cục THADS TP Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 366/2024/DS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động và bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 366/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động và bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger