|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 366/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 9 - 2024 |
|
|
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh; ông Trần Ngọc Đăng.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 187/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 27/9/1992. Nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn P, sinh ngày 15/11/1995. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị L trình bày như sau:
Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn P kết hôn, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An ngày 15 tháng 2 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian đầu. Đầu năm 2022 do việc làm ăn không thuận lợi nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tháng 10/2022, anh P đi xuất khẩu lao động tại Canada từ đó đến nay chưa về. Thời gian đầu anh P đi Canada thì vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, hỏi thăm nhau và gửi tiền về cho vợ con. Đến giữa năm 2023, anh P ít liên lạc, qua tìm hiểu thì ở bên Canada anh P thường xuyên chơi bời và không chịu làm ăn, chị L đã khuyên răn nhưng anh P không nghe mà còn chơi bời nhiều hơn, nên mâu thuẫn trầm trọng. Đến cuối năm 2023 thì anh P ít liên lạc về. Đến nay thì vợ chồng không còn liên lạc và quan tâm tới nhau nữa. Tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp diễn. Vì vậy, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Văn P.
Về con chung: chị L, anh P có 02 người con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2015, Nguyễn Thị Gia L1, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2017. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân bị đơn (anh Nguyễn Văn P) và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh Nguyễn Văn P đều vắng mặt không có lý do.
Chị Nguyễn Thị L không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của anh Nguyễn Văn P. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh Nguyễn Văn P (ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T là bố mẹ đẻ anh P, trú tại xóm S, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Nguyễn Văn P); yêu cầu ông Đ, bà T thông báo cho anh P biết chị Nguyễn Thị L đang khởi kiện ly hôn anh P và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh P gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Ông Nguyễn Văn Đ cho biết anh P đang đi xuất khẩu lao động tại Canada, vẫn liên lạc với gia đình qua điện thoại; anh P đã biết chị Nguyễn Thị L đang khởi kiện ly hôn anh P và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, nhưng do anh P thường xuyên thay đổi chỗ ở, nơi làm việc và không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án; anh P đồng ý ly hôn với chị L.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Nguyễn Văn P liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh P.
Nguyện vọng của cháu Nguyễn Văn H: nếu bố, mẹ ly hôn cháu mong muốn được ở với mẹ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn P; giao con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2015, Nguyễn Thị Gia L1, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị L chưa yêu cầu, nên không xem xét.
Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thẩm quyền:
Bị đơn anh Nguyễn Văn P có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh P hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, 38 Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Nguyễn Văn P vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài, chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn – chị Nguyễn Thị L đã viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cho Tòa án, nhưng không thể tham gia phiên tòa được nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn - anh Nguyễn Văn P, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo Công văn số 14637/QLXNC-P3 ngày 08/7/2024 của Cục Q – Bộ C thì anh Nguyễn Văn P xuất cảnh qua Cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Nguyễn Thị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Văn P tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T (bố mẹ đẻ anh P) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh P và thông báo cho anh P biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, đề nghị anh P gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, ông Đ, bà T không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh P, nhưng đã thông tin và anh P đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án mà anh P là bị đơn và anh P không có ý kiến gì.
Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa xóm T1, xã N và tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của anh P trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc anh P không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh P cố tình dấu địa chỉ.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2015, quyển số 2 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn P là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị L, anh P chung sống hạnh phúc. Đầu năm 2022 do việc làm ăn không thuận lợi nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tháng 10/2022, anh P đi xuất khẩu lao động tại Canada từ đó đến nay chưa về. Đến giữa năm 2023, anh P ít liên lạc, mâu thuẫn vợ chồng trở lên trầm trọng. Đến nay thì vợ chồng không còn liên lạc và quan tâm tới nhau.
Xét thấy: tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn P đã thực sự trầm trọng, vợ chồng sống xa nhau nhưng lại không quan tâm tới nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị L được ly hôn anh P là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn P có 02 con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2015, Nguyễn Thị Gia L1, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2017. Xét điều kiện hiện tại, cần chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn và phù hợp với nguyện vọng của cháu H. Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị L không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh P có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị L không yêu cầu và anh P cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
-
Về con chung:
- Giao con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2015, Nguyễn Thị Gia L1, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012765 ngày 10/4/2024.
-
Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
- Anh Nguyễn Văn P đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 366/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 366/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
