Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 366/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Mai Thanh Giàu
  • 2. Bà Phan Thị Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Xuân – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 358/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Sơn Thương; sinh ngày: 01/01/1999 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Sơn S, sinh năm: 1956 (đã chết) và bà Thạch Thị T, sinh năm: 1965; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án: Ngày 18/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 208/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/2022 và đã đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/3/2022; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh L, sinh năm: 1991, địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Sơn T1 điều khiển xe mô tô biển số 60B4-508.63 lưu thông đến trước nhà số B Đ, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ tuần tra 363 Công an thành phố T yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, T1 không xuất trình được giấy phép lái xe, đồng thời phát hiện trong túi quần bên trái phía trước đang mặc trên người của T1 có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, T1 khai đây là ma tuý đá mua về để sử dụng cho bản thân nên Tổ công tác đưa T1 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Sơn T1 khai nhận: T1 bắt đầu sử dụng ma túy đá từ tháng 01/2022 nhưng không thường xuyên. Gói ma tuý bị thu giữ là ma tuý đá do T1 mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch) tại khu vực chân cầu S, phường A thuộc thành phố T vào lúc 19 giờ 00 ngày 19/01/2024 với giá 3.000.000 đồng do người bạn tên H (không rõ lai lịch) quen biết ngoài xã hội giới thiệu. Đây là lần đầu T1 mua ma túy của người thanh niên trên. Mục đích T1 mua gói ma túy trên về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Kết luận giám định số 1627/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9974 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký tên Sơn T1, Nguyễn Hữu H1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B, thành phố T, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9974 gam, loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 4,7026 gam.
  • - 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung màu xanh số sim 0325324286;
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng đỏ biển số: 60B4-508.63;

Cáo trạng số 354/CT-VKSTPTĐ ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Sơn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Sơn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Sơn T1 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong ghi vụ số 1627 (535/24) có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân S1 và Nguyễn Thị Phương M – cán bộ CATP. Thủ Đức, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; Thông báo kìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng đỏ biển số: 60B4-508.63, số máy: 5C6H188223; số khung: RLCS5C6H0GY188203 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung màu xanh số sim 0325324286 bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Sơn T1 phù hợp với nội dung: Biên bản Bắt người phạm tội quả tang lập ngày 20/01/2024 của Công an phường B, thành phố T; Kết luận giám định số 1627/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, trước nhà số B Đ, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra 363 Công an thành phố T dừng xe kiểm tra và phát hiện Sơn T1 đang cất giấu ma túy trong túi quần bên trái phía trước có khối lượng 4,9974 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của Sơn T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Sơn T1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ gây tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của người sử dụng mà còn làm phá sản về kinh tế của gia đình người nghiện và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Sơn T1 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và lạm dụng chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người xung quanh. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo T1 và người đàn ông tên H (không rõ lai lịch) giới thiệu chỗ mua ma túy cho bị cáo T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[5] Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

  • - 01 (một) gói được niêm phong ghi vụ số 1627 (535/24) có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân S1 và Nguyễn Thị Phương M – cán bộ CATP. Thủ Đức, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng đỏ biển số: 60B4-508.63, số máy: 5C6H188223; số khung: RLCS5C6H0GY188203, đứng tên anh Lê Thanh L, anh L xác nhận đã bán xe cho người thanh niên không rõ lai lịch. Bị cáo khai bị cáo mua xe của người đàn ông không rõ lai lịch, hai bên giao tiền nhận xe, không làm thủ tục sang tên do đó không có cơ sở xác định bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp xe trên. Do đó, giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng đỏ biển số: 60B4-508.63, số máy: 5C6H188223; số khung: RLCS5C6H0GY188203 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • Bị cáo đã sử dụng xe vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung màu xanh số sim 0325324286 bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Sơn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  3. - Xử phạt bị cáo Sơn T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
  5. - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong ghi vụ số 1627 (535/24) có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân S1 và Nguyễn Thị Phương M – cán bộ CATP. Thủ Đức, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet;

    - Giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng đỏ biển số: 60B4-508.63, số máy: 5C6H188223; số khung: RLCS5C6H0GY188203 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

    - Trả lại cho bị cáo Sơn T1 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung màu xanh, số sim 0325324286.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 243/QĐ-VKSTPTĐ ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Biên bản bàn giao tang tài vật ngày 28/6/2024 và Phiếu nhập kho ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).

  6. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  7. Buộc bị cáo Sơn T1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
  9. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 366/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 366/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIAM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger