Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 366/2024/HS-ST

Ngày 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Trịnh Văn Lực.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy An, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần tại Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 384/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1977, tại tỉnh Thanh Hóa. Thường trú: Thôn B, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1950 và bà Trịnh Thị X, sinh năm 1952; vợ Trần Thị X1, sinh năm 1980 (đã ly hôn năm 2004); bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2000 và nhỏ sinh năm 2002; tiền sự, nhân thân: không.

- Bị cáo có 02 tiền án:

  • + Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong hình phạt tù vào ngày 20/10/2021 và đã đóng án phí vào ngày 28/6/2022.
  • + Năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong hình phạt tù vào ngày 01/3/2023 và đã đóng án phí vào ngày 15/3/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024 cho đến nay, có mặt.

2

- Bị hại: Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Thạch Thái A, sinh năm 1995. Thường trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
  2. Ông Trương Minh T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: số D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  3. Ông Trịnh Văn T2, sinh năm 1972. Địa chỉ: số G, đường số I, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  4. Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1990. Địa chỉ: số B, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1977, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 30/8/2024, ông Nguyễn Trọng N1 liên hệ ông Trương Minh T1 để sửa chữa xe ô tô đầu kéo hiệu Huyndai biển số 93C-105.92 nhưng do ông T1 về quê nên ông T1 nói ông N1 để lại xe ô tô trên cho ông T1, ông Nguyễn điều K xe ô tô đầu kéo đỗ ở lề đường trước số A, đường X, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Thanh T không có nơi cư trú ổn định, không có việc làm nên ngày 01/9/2024, T đi lang thang khu vực công viên cầu vượt S, thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản trộm cắp thì phát hiện xe đầu kéo Huyndai biển số 93C-105.92 đang đỗ, không có người trông coi, T lại gần quan sát thấy khu vực để bình ắc quy của xe ô tô đầu kéo không có khóa bảo vệ nên nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc quy xe.

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 02/9/2024, T mua hai khóa mở ốc vít số 08 và số 12 đi đến vị trí xe ô tô đầu kéo biển số 93C-105.92 đang đỗ, quan sát không có người trông coi, T dùng hai khóa mở ốc vít để mở dây điện và lấy trộm 02 bình ắc quy hiệu GS của xe ô tô đầu kéo biển số 93C-105.92, mang đi cất giấu ở công viên gần đó. Sau đó, Nguyễn Thanh T đi bộ đến khu vực cây xăng S thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp ông Trịnh Văn T2 là tài xế xe Honda chở khách thuê, T thuê ông T2 chở T chở đi bán bình ắc quy tại vòng xoay A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì ông T2 đồng ý. Ông T2 chở T quay lại nơi T cất giấu để lấy 02 bình ắc quy sau đó chở T đến khu vòng xoay A tìm chỗ bán nhưng không được. T tiếp tục đề nghị ông T2 chở đến cửa hàng Á tại số B, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do bà Hồ Thị Kim L làm chủ, T bán cho bà L 02 bình ắc quy nói trên với giá 2.100.000 đồng (bà L không biết việc 02 bình ắc quy do bị cáo phạm tội mà có, bà L đã giao nộp lại 02 bình ắc quy lại cho cơ quan điều tra). Sau đó, T nói ông T2 chở về đến bến xe T thuộc phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và

3

trả cho ông T2 100.000 đồng tiền thuê xe và cho thêm ông T2 700.000 đồng (ông T2 không biết 02 bình ắc quy do bị cáo phạm tội mà có, ông T2 đã giao nộp lại số tiền này cho cơ quan điều tra) số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 05/9/2024, bị cáo Nguyễn Thanh T đầu thú về hành vi của mình tại Công an phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 144/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: 02 bình ắc quy hiệu GS N150 (12V-150Ah), có giá trị 2.400.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả lại 02 bình ắc quy hiệu GS N150 (12V-150Ah) cho ông Nguyễn Trọng N1. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Qua điều tra xác định, ông Trịnh Văn T2 và bà Hồ Thị Kim L không biết việc bị cáo T bán 02 bình ắc quy là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự. Bà L và ông T2 không có yêu cầu bị can T bồi thường.

Đối với số tiền 800.000 đồng xác định là số tiền do phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

Tại Cáo trạng số 376/CT-VKS ngày 13 tháng 11 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T với mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: đối với số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị hại Nguyễn Trọng N1 vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự: Ông N1 đã nhận lại 02 bình ắc quy hiệu GS N150 (12V-150Ah) và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Thanh T đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2021 văn năm 2022 nhưng chưa được xóa án tích. Ngày 02/9/2024 tại số A, đường X, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thanh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bình ắc hiệu GS N150 (12V-150Ah) từ xe ô xe đầu kéo Huyndai biển số 93C-105.92 đang được ông Trương Minh T1 quản lý có giá trị 2.400.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 144/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý hoang mang cho người dân tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét

5

xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: đối với 800.000 đồng thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Ông Trịnh Văn T2 và bà Hồ Thị Kim L không biết việc bị cáo T bán 02 bình ắc quy là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 800.000 đồng (đã chuyển vào tài khoản số 39490104590400000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 14/11/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 366/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 366/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger