Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 366/2025/DS-ST

Ngày: 23 – 5 – 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàng
  2. Bà Trần Quang Cảnh

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Diệu T – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 653/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 473/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 657/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; Địa chỉ: số B phố B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Bảo T1; Địa chỉ: A - A N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Bùi Hương G, sinh năm 2001; Địa chỉ: F N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Bùi Thị Hồng N, sinh năm 1977, có đơn xin vắng mặt.
    2. Ông Nguyễn Bùi Tuấn A, sinh năm 2003, vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Số A Đường số B, khu phố E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 07/8/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q do ông Lưu Bảo T1 – người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng) và bà Nguyễn Bùi Hương G có ký kết hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Hợp đồng cho vay số: 498/20/HĐCV-9300 ngày 31/12/2020.

  • + Khế ước nhận nợ số: 01/KUNN/498/20/HDCV-9300 ngày 08/01/2021.
  • + Số tiền nhận nợ: 1,500,000,000 đồng
  • + Thời hạn vay: 300 tháng
  • + Mục đích vay: Hoàn tiền mua bất động sản.
  • + Lãi suất vay: LSV trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân là 10.3%/năm, Lãi suất kỳ tiếp theo lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức LSV = Lãi suất cơ sở + bị 3.9%/năm. LSCS được N2 ban hành theo từng thời kỳ.
  • + Lãi quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
  • + Lãi suất chậm trả lãi: Bằng 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Nguyễn Bùi Hương G đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 507/20/HĐTC-9300 ngày 31/12/2020 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 108, tờ bản đồ số: 182 (TL-2005), diện tích: 39.60m2, hình thức sử dụng: riêng: 39.60m2; chung: Không, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài; địa chỉ: A Đường số B, khu phố A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 714682, số vào sổ cấp GCN: CH06295 do Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/7/2011, cập nhật chủ sở hữu, chủ sử dụng gần nhất ngày 07/9/2018, cập nhật đính chính sai sót ngày 23/10/2018 cấp cho bà Nguyễn Bùi Hương G. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên bà Nguyễn Bùi Hương G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do vậy khoản vay đã bị quá hạn, số tiền gốc và lãi bà Nguyễn Bùi Hương G còn nợ Ngân hàng, tạm tính đến ngày 23/5/2025 là: 2.338.917.348 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.420.006.354 đồng; Nợ lãi trong hạn: 96.822.630 đồng, N1 lãi quá hạn: 822.088.363 đồng.

Nay ông đại diện cho Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết như sau:

Buộc bà Nguyễn Bùi Hương G phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 2.338.917.348 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.420.006.354 đồng; Nợ lãi trong hạn: 96.822.630 đồng, N1 lãi quá hạn: 822.088.363 đồng.

Bà Nguyễn Bùi Hương G phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày 25/5/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay 498/20/HĐCV-9300 ngày 31/12/2020 và khế ước nhận nợ số 01/KUNN/498/HĐCV-9300 ngày 08/01/2021;

Nếu bà Nguyễn Bùi Hương G không trả nợ hoặc trả nợ không đủ nghĩa vụ nêu trên, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 108, tờ bản đồ số: 182 (TL-2005), diện tích: 39.60m2, hình thức sử dụng: riêng: 39.60m2; chung: Không, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài; Địa chỉ: A Đường số B, khu phố A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 714682, số vào sổ cấp GCN: CH06295 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/7/2011, cập nhật chủ sở hữu, chủ sử dụng gần nhất ngày 07/9/2018, cập nhật đính chính sai sót ngày 23/10/2018 cấp cho bà Nguyễn Bùi Hương G theo Hợp đồng thế chấp số 507/20/HĐTC-9300 ngày 31/12/2020 đã được công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

Trường hợp số tiền phát mãi từ tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết các khoản nợ tại Ngân hàng thì bà Nguyễn Bùi Hương G phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.

Buộc bà Nguyễn Bùi Hương G phải chịu mọi chi phí phát sinh trong giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Hồng N xin vắng mặt và có ý kiến trình bày:

Bà là mẹ của Nguyễn Bùi Hương G, hiện bà và con trai Nguyễn Bùi Tuấn A đang cư trú tại nhà số A Đường số B, khu phố E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà này do Hương G đứng tên và đang thế chấp cho Ngân hàng, không liên quan đến bà. Bà sẽ vận động Hương G trả tiền cho Ngân hàng để lấy lại giấy tờ nhà. Trường hợp Ngân hàng phát mãi thì bà sẽ dọn ra. Bà xin văng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp, hòa giải cũng như xét xử tại Tòa án.

Toà án đã tổ chức cho các bên hoà giải nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Đại diện nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên.
  • - Bị đơn: Vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Vắng mặt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, Từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án:

Căn cứ các Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Bùi Hương G là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Bà Hương G vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét, nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn có địa chỉ tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tuấn A theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng các ông bà vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:

Xét, Hợp đồng tín dụng thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét, trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng thì Hương G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Hương G thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 23/5/2025 là 2.338.917.348 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.420.006.354 đồng; Nợ lãi trong hạn: 96.822.630 đồng, N1 lãi quá hạn: 822.088.363 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 24/5/2025 theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ cho đến khi bà Hương G thanh toán xong số tiền còn nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.

Xét, trong quá trình giải quyết vụ án bà Hương G và ông Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến, yêu cầu do đó không có cơ sở để xem xét.

[3.2] Về thời hạn và phương thức thanh toán: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, do đó việc Ngân hàng yêu cầu thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

[3.3] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp:

Để đảm bảo thực hiện khoản vay, bà Hương G đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 108, tờ bản đồ số: 182 (TL-2005), diện tích: 39.60m2, hình thức sử dụng: riêng: 39.60m2; chung: Không, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài; Địa chỉ: A Đường số B, khu phố A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 714682, số vào sổ cấp GCN: CH06295 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/7/2011, cập nhật chủ sở hữu, chủ sử dụng gần nhất ngày 07/9/2018, cập nhật đính chính sai sót ngày 23/10/2018 cấp cho bà Nguyễn Bùi Hương G theo Hợp đồng thế chấp số 507/20/HĐTC-9300 ngày 31/12/2020 đã được công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2021 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B. Tài sản thế chấp và hợp đồng thế chấp này là hợp pháp nên việc bà Hương G vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong các hợp đồng tín dụng gây ảnh hưởng đên quyên và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm nếu không trả hết nợ là có cơ sở pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

[4] Về án phí, chi phí tố tụng:

[4.1] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Hương G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 78.778.347 đồng.

H lại số tiền tạm ứng án phí 31.837.768 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000143 ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng.

[4.2] Về chi phí tố tụng:

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 8.000.000 đồng do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tạm ứng để thực hiện, do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Nguyễn Bùi Hương G có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 8.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, Điều 292, Điều 295, Điều 299, Điều 318; Điều 323, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.

    Buộc bà Nguyễn Bùi Hương G có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Q số tiền tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 2.338.917.348 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.420.006.354 đồng; Nợ lãi trong hạn: 96.822.630 đồng, N1 lãi quá hạn: 822.088.363 đồng.

    Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 24/5/2025 theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số: 498/20/HĐCV-9300 ngày 31/12/2020, Khế ước nhận nợ số: 01/KUNN/498/20/HDCV-9300 ngày 08/01/2021 cho đến khi bà Nguyễn Bùi Hương G thi hành xong các khoản nợ.

    Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Trường hợp bà Nguyễn Bùi Hương G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 108, tờ bản đồ số: 182 (TL-2005), diện tích: 39.60m2, hình thức sử dụng: riêng: 39.60m2; chung: Không, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài; Địa chỉ: A Đường số B, khu phố A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 714682, số vào sổ cấp GCN: CH06295 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/7/2011, cập nhật chủ sở hữu, chủ sử dụng gần nhất ngày 07/9/2018, cập nhật đính chính sai sót ngày 23/10/2018 cấp cho bà Nguyễn Bùi Hương G theo Hợp đồng thế chấp số 507/20/HĐTC-9300 ngày 31/12/2020 đã được công chứng tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2021 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp, sau khi trừ các khoản phí liên quan theo quy định pháp luật sẽ được trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Trường hợp trả nợ còn dư thì sẽ hoàn lại cho bà Nguyễn Bùi Hương G. Trường hợp trả nợ không đủ thì bà Nguyễn Bùi Hương G phải tiếp tục thanh toán cho đến khi hết nợ.

  2. Nếu bà Nguyễn Bùi Hương G trả hết nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Bùi Hương G bản chính các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 7144682 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 05/7/2011 số vào sổ cấp GCN: CH06295 cập nhật cho bà Nguyễn Bùi Hương G ngày 07/9/2018 và ngày 23/10/2018 và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 02/10/2018.
  3. Về án phí, chi phí tố tụng:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Bà Nguyễn Bùi Hương G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 78.778.347 đồng.

      H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 31.837.768 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000143 ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Về chi phí tố tụng:

      Bà Nguyễn Bùi Hương G có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 8.000.000 đồng.

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Về quyền kháng cáo:

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 366/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 366/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger