Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 366/2025/DS-PT

Ngày: 27/6/2025

V/v “Tranh chấp về dân sự - Hợp

đồng tặng cho quyền sử dụng

đất”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
  • - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng
  • Ông Ngô Tấn Lợi
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 274/2024/DS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 308/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn:
    1. Nguyễn Thị T, sinh năm 1954;
    2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963;
  • Cùng địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Bị đơn: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965;
  • Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Trần Thị T3, sinh năm 1970;
    2. Nguyễn Thanh L, sinh năm 1995;
    3. Nguyễn Thành P, sinh năm 2007;
  • Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thành P: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1970.
  • Cùng địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
    1. Nguyễn Thị X, sinh năm 1954;
  • Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
    1. Phạm Thị Cẩm D, sinh năm 1967;
  • Địa chỉ: Số H, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Cao Hoàng P1, sinh năm 1956.
  • Địa chỉ: Số A, N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T2 là bị đơn của vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Phần đất tranh chấp thuộc thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn G. Ông G có 08 người con gồm: Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Ngọc T4, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T2. Khi ông G còn sống có hứa cho bà T, bà T1 mỗi người 01 nền nhà. Năm 2007, ông G lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên cho ông T2 đứng tên QSDĐ, nhưng trong gia đình không ai hay biết. Ngày 01/3/2008, ông T2 viết tờ cho đất với nội dung ông T2 đồng ý cho bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 mỗi người một nền nhà có diện tích ngang 5m dài 22m. Sự việc này có ông G chứng kiến nhưng không ký tên vào tờ cho đất. Khi ông G chết, ông T2 không thực hiện thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất như thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp.

Trước đây tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu các vấn đề sau:

  • - Yêu cầu ông Nguyễn Văn T2 tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo tờ cho đất ngày 01/03/2008.
  • - Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được nhận diện tích 108,1m² thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M5 – M6 – M9 – M10 – M5 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đo vẽ ngày 04/3/2021.
  • - Bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu được nhận diện tích 105,1m² thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M6 – M7 – M8 – M9 – M6 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đo vẽ ngày 04/3/2021.
  • - Yêu cầu ông T2, bà T3, anh L và anh P di dời tài sản trên đất mà bà T và bà T1 được nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 thay đổi yêu cầu khởi kiện. Bà T và bà T1 yêu cầu các vấn đề sau:

  • - Yêu cầu ông Nguyễn Văn T2 tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo tờ cho đất ngày 01/03/2008.
  • - Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được nhận diện tích 95,7m² thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M26 – M9 – M23 – M24 – M27 – M26 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 24/6/2024.
  • - Bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu được nhận diện tích 96,8m² thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M25 – M8 – M9 – M26 – M25 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 24/6/2024.
  • - Yêu cầu ông T2, bà T3, anh L và anh P di dời tài sản trên đất mà bà T và bà T1 được nhận.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T2 trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa số 221, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại xã M, huyện C của bà Nguyễn Thị H1 là bà nội của ông T2. Bà Huỳnh C để lại cho ông Nguyễn Văn G là cha của ông T2. Ông G chết năm 2019, bà Nguyễn Thị N1 là mẹ của ông T2 chết năm 1968. Ông G và bà N1 có 08 người con gồm: Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Ngọc T4, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T2.

Ông G có 02 phần đất gồm: Một phần đất có diện tích 18 công tọa lạc tại ấp B, xã M, huyện C do nhận chuyển nhượng của người khác và một phần đất 04 công tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C là của bà nội để lại.

Trước năm 1995, ông G đồng ý cho bà T và bà T1 mỗi người một nền nhà. Tuy nhiên, bà T và bà T1 không đồng ý mà yêu cầu chia đất vườn đồng đều nhau.

Vào ngày 10/12/1999, ông G cho họp các con để lập tờ di chúc cho đất cụ thể như sau: Trong phần đất 18 công tọa lạc tại ấp B, xã M, huyện C thì có một phần là đất vườn, một phần là đất ruộng. Phần đất vườn được chia thành 08 phần bằng nhau, chia đều trong gia đình. Phần đất ruộng được chia làm 07 phần bằng nhau và chia cho bà N, bà T, bà X, bà Đ, ông T4, bà T1 và ông T2. Riêng bà H đã được cha cho phần đất khác nên không nhận phần đất này. Phần đất 04 công tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C ông G giao lại cho ông T2 để làm phần đất thờ cúng hương hỏa. Trong đó, ông G có dặn dò 01 công để làm nghĩa địa, 03 công còn lại có căn nhà thì để làm đất hương hỏa. Ông G đã lập thủ tục tặng cho ông T2 và ông T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc 02 thửa. Việc ông G lập di chúc nội dung nói trên có ông Nguyễn Tấn K và ông Lê Văn X1, cùng địa chỉ ấp A, xã M, huyện C chứng kiến.

Sau khi được cha chia đất thì tất cả các anh chị em đã đi kê khai đăng ký và được đứng tên quyền sử dụng.

Đối với “Tờ cho đất” xác lập ngày 01/3/2008 thì ông T2 không thừa nhận có ký tên. Ông T2 không có tặng cho quyền sử dụng đất như bà T và bà T1 trình bày. Ông T2 không yêu cầu giám định lại tờ cho đất, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, ông T2 đồng ý cho bà T, bà T1 cất nhà để ở trên đất theo diện tích đã thẩm định thực tế nhưng chỉ đồng ý cho cất nhà ở đến hết đời, chứ không đồng ý tách quyền sử dụng đất.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T2 quản lý, không cầm cố thế chấp cho ai.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T3, Nguyễn Thanh L, Phạm Thị Cẩm D và Cao Hoàng P1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 274/2024/DS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1;
    1. Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T2 với bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 ngày 01/3/2008.
    2. Buộc ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thành P có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị T diện tích 95,7m² (đất ONT) thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M26 – M9 – M23 – M24 – M27 – M26 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 24/6/2024.
    3. Buộc ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thành P có nghĩa vụ di dời các tài sản trên đất và giao cho bà nguyễn Thị T1 diện tích 96,8m² (đất ONT) thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc các mốc M25 – M8 – M9 – M26 – M25 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 24/6/2024.

Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 24/6/2024 và biên bản xem xét thẩm định ngày 04/3/2021 và ngày 27/6/2024.

Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thành P có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất đã được Tòa án công nhận quyền sử dụng theo bản án đã tuyên.

Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AL 401661, vào sổ cấp số H00686, thửa 221, tờ bản đồ số 11 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T2 ngày 31/12/2007 để cấp lại theo quy định.

  1. Về án phí:
    1. Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T1 thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá là 1.000.000 đồng và chi phí giám định là 3.111.000 đồng, tổng cộng 4.111.000 đồng bị đơn ông T2 phải chịu. Do bà T và bà T1 đã tạm ứng trước nên ông T2 phải nộp 4.111.000 đồng (Bốn triệu một trăm mười một nghìn đồng) để trả lại cho bà T, bà T1.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

  • - Ngày 16/12/2024, ông Nguyễn Văn T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên lời chúc ngôn của cha ông.
  • Tại phiên tòa phúc thẩm;
  • + Ông Nguyễn Văn T2 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2 là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T2 giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn G, là cha của nguyên, bị đơn. Ngày 10/9/1998, ông G được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất. Ngày 26/11/2007, ông G xác lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông T2 thửa đất tranh chấp nêu trên. Ngày 31/12/2007, ông T2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 01/3/2008 ông T2 làm “Tờ cho đất” với nội dung tặng cho bà T, bà T1 mỗi người một nền nhà có diện tích 05m x 22m. Việc ông T2 làm tờ cho đất nói trên là có thật, mặc dù ông T2 không thừa nhận nhưng theo kết quả giám định xác định chữ ký đứng tên Nguyễn Văn T2 dưới mục “người cho” trong “Tờ cho đất” nói trên là của bị đơn Nguyễn Văn T2. Điều này cũng phù hợp với lời trình bày thống nhất của nguyên, bị đơn là khi ông G còn sống có hứa cho bà T, bà T1 mỗi người một nền nhà vì bà T và bà T1 không có chỗ ở và phù hợp với nội dung Tờ chúc ngôn và tương phân của ông G là cho các con ở trên đất không quá hai nền nhà, mặc dù ông T2 cho rằng phía bà T6 và bà T1 đã từ chối nhận, nhưng lời trình bày này là không phù hợp hợp thực tế, trong đó có bà T đã cất nhà ở trên đất và ông T2 cũng không có chứng cứ gì để chứng minh. Mặt khác, theo lời khai của ông Trần Văn V, xác định ông có chứng kiến việc ông G nói cho bà T và bà T1 mỗi người 01 nền nhà đúng như xác nhận “Tờ cho đất” ngày 01/3/2008 của ông T2. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ để xác định khi ông G còn sống có hứa cho bà T, bà T1 mỗi người một nền nhà và sau đó, ngày 01/3/2008 ông T2 cũng đã thực hiện theo đúng ý chí của ông G khi còn sống và làm “Tờ cho đất” nói trên.

    Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà T và bà T1 tự nguyện và thay đổi yêu cầu khởi kiện, trong đó, bà T chỉ yêu cầu được nhận diện tích 95,7m² (trong phạm vi các mốc M26 – M9 – M23 – M24 – M27 – M26), bà T1 chỉ yêu cầu được nhận diện tích 96,8m² (trong phạm vi các mốc M25 – M8 – M9 – M26 – M25) là ít hơn diện tích đất được tặng cho theo “Tờ cho đất” ngày 01/3/2008, là đã có lợi đối với ông T2.

    Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T2 với bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1; buộc hộ ông T2 có nghĩa vụ giao cho bà T diện tích 95,7m² và bà T1 96,8m², đất thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11 là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật.

    Tại phiên tòa phúc thẩm ông T2 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  2. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị.

    Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

  3. Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ông T2, phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 117, Điều 457, Điều 459, Điều 500 và Điều 502 Bộ luật dân sự; các Điều 166, Điều 167 và Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2.
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 274/2024/DS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1;
    1. Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T2 với bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 ngày 01/3/2008.
    2. Buộc ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thành P có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị T diện tích 95,7m² (đất ONT) thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M26 – M9 – M23 – M24 – M27 – M26 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 24/6/2024.
    3. Buộc ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thành P có nghĩa vụ di dời các tài sản trên đất và giao cho bà nguyễn Thị T1 diện tích 96,8m² (đất ONT) thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc các mốc M25 – M8 – M9 – M26 – M25 theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 24/6/2024.

Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 24/6/2024 và biên bản xem xét thẩm định ngày 04/3/2021 và ngày 27/6/2024.

Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thành P có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất đã được Tòa án công nhận quyền sử dụng theo bản án đã tuyên.

Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AL 401661, vào sổ cấp số H00686, thửa 221, tờ bản đồ số 11 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T2 ngày 31/12/2007 để cấp lại theo quy định.

  1. Về án phí:
    1. Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T1 thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá là 1.000.000 đồng và chi phí giám định là 3.111.000 đồng, tổng cộng 4.111.000 đồng bị đơn ông T2 phải chịu. Do bà T và bà T1 đã tạm ứng trước nên ông T2 phải nộp 4.111.000 đồng (Bốn triệu một trăm mười một nghìn đồng) để trả lại cho bà T, bà T1.
  3. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001830 ngày 16/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng TT, KTNV & THA Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND huyện Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 366/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự - hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 366/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: 1. Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; 2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Cùng địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger