Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 366/2024/HS-ST

Ngày 12/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Tám

Ông Nguyễn Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 365/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Phạm Hữu T, sinh năm 1989 tại thành phố Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú: xã N, huyện T, TP Hải Phòng; Chỗ ở trước khi bị bắt: E N, phường R, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Hữu Đ, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị Ánh N, sinh năm 1977; Vợ là Hoàng Thị Ó, sinh năm 1987; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 28/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

2. Nguyễn Thế H1, sinh năm 1977 tại thành phố Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: 92 N, phường R, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Thế H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1957; Vợ là Lê Ngọc Q, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2012;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án số 15/2012/HSST ngày 17/2/2012 của Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt Nguyễn Thế H1 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 11/11/2016.
  • + Bản án số 69/2019/HSST ngày 10/5/2019 của Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt Nguyễn Thế H1 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/10/2020.

Bị bắt ngày 28/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1982; Đ1 chỉ: 51 L, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 28/12/2023, Nguyễn Thế H1 ở nhà tại số I N, phường R, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì Phạm Hữu T đến nhà và rủ H1 mua ma túy đá về sử dụng. Trước đó, T có cầm 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max tại tiệm cầm đồ Đ, phường R, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 9.000.000 đồng. Do không có tiền để chuộc điện thoại nên T đã điện thoại thương lượng với chủ tiệm cầm đồ bán chiếc điện thoại trên với giá 10.000.000 đồng và bảo H1 đi đến tiệm cầm đồ lấy trước 1.000.000 đồng, 500.000 đồng chuyển vào tài khoản ngân hàng cho T còn 500.000 đồng để mua ma túy đá cho cả hai cùng sử dụng. Sau khi chuyển tiền cho T, H1 cầm 500.000 đồng đến khu vực cảng C, Phường A, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mua 01 gói ma túy đá của một người đàn ông (không rõ lai lịch) mang về nhà của H1. Tại đây, H1 và T sử dụng ma túy đá bằng một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế của H1. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Văn B (là bạn của H1 và T) đến nhà H1 chơi thì thấy H1 và T đang sử dụng ma túy nên đã ngồi sử dụng ma túy chung. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi cả ba sử dụng ma túy xong đang nằm nghỉ thì bị Công an phường R kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng của vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thế H1 và Phạm Hữu T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Nguyễn Văn B tình cờ tới nhà H1 chơi, thấy T và H1 đang sử dụng ma túy nên đã xin sử dụng cùng.

Nguyễn Văn B không góp tiền hay hứa hẹn góp tiền mua số ma túy trên. Khi lực lượng chức năng bắt quả tang thì T, H1, B đã sử dụng ma túy xong, số ma túy còn lại trong gói nilon để dành hôm sau sử dụng tiếp.

Lời khai của Nguyễn Thế H1, Phạm Hữu T và Nguyễn Văn B phù hợp với nhau, với chứng cứ thu thập được.

Tại bản Kết luận giám định số: 80/KL-KTHS-MT ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu – trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của “Công an Phường R – Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Lưu Ngọc T1, Trần Văn S, Nguyễn Văn B, Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1, Phan Minh T2, gửi đến giám định có khối lượng 0,1460 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng gồm:
  • - 01 gói nilon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt qua giám định có khối lượng 0,1460 gam là ma túy loại Methamphetamine.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen có số Imei 1: 353159118167391 (của Nguyễn Thế H1).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có số Imei: 3353003096814071 (của Phạm Hữu T).

Toàn bộ số vật chứng và tài sản trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 138/CT-VKSTPVT ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố: Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy hồ sơ có nhiều vấn đề cần làm rõ liên quan đến tội danh của các bị cáo Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1 đã bị truy tố nên Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu theo Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 17/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024.

Tại Cáo trạng số 138A/VKSTPVT ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  • + Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T mức án từ 07 đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H1 mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu T và Nguyễn Thế H1, mỗi bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • - Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1.
  • - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 gói nilon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt qua giám định có khối lượng 0,1460 gam là ma túy loại Methamphetamine.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen có số Imei 1: 353159118167391 (của Nguyễn Thế H1).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có số Imei: 3353003096814071 (của Phạm Hữu T).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với laoif khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại số I N, phường R, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường R, TP V bắt quả tang Phạm Hữu T và Nguyễn Thế H1 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn B. Ngoài ra, T và H1 còn tàng trữ trái phép 0,1460 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho ngày hôm sau.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Hữu T và Nguyễn Thế H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đúng như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu.

[3] Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; vai trò và tính đồng phạm của các bị cáo:

Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:

Hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về vai trò và tính đồng phạm của các bị cáo: Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm, không có sự bàn bạc và câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Trong hai bị cáo, bị cáo H1 là người có nhân thân xấu: Năm 2012, bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 15/2012/HSST ngày 17/2/2012. Chấp hành xong hình phạt ngày 11/11/2016; Năm 2019, bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 69/2019/HSST ngày 10/5/2019. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/10/2020. Sau khi ra tù bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt bị cáo mức án nặng hơn bị cáo T để răn đe và giáo dục bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho các bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.

[5] Về xử lý vật chứng:

[5.1]. Cần tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 gói nilon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt qua giám định có khối lượng 0,1460 gam là ma túy loại Methamphetamine, là chất nhà nước cấm lưu hành
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp là vật dụng là phương tiện, công cụ các bị cáo thực hiện tội phạm nhưng không còn giá trị sử dụng.

[5.2]. Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen có số Imei 1: 353159118167391 (của Nguyễn Thế H1).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có số Imei: 3353003096814071 (của Phạm Hữu T).

Các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc phạm tội.

[6] Về vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Văn B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H1 và T, do không rõ lai lịch. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T tiếp tục xác minh làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố:
    • - Các bị cáo: Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. 2.
    1. 2.1.
      • - Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Hữu T: 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
      • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt phạt: Bị Phạm Hữu T: 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
      • Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 tội bị cáo Phạm Hữu T phải chịu là: 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
    2. 2.2.
      • - Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế H1: 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
      • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt phạt: Bị Nguyễn Thế H1: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
      • Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 tội bị cáo Nguyễn Thế H1 phải chịu là: 08 (Tám) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
  3. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    1. 3.1 Tịch tu tiêu hủy:
      • - 01 gói nilon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt qua giám định có khối lượng 0,1460 gam là ma túy loại Methamphetamine.
      • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp.
    2. 3.2. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
      • - 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen có số Imei 1: 353159118167391 (của Nguyễn Thế H1).
      • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có số Imei: 3353003096814071 (của Phạm Hữu T).

      (Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 178/ BB.CCTHA ngày 03 tháng 5 năm 2024.

  4. 4. Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo: Phạm Hữu T, Nguyễn Thế H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. 5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06, PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 366/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 366/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu T - Nguyễn Thế H - Tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger