|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 366/2024/HS-ST Ngày: 17-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh
- Ông Huỳnh Thế Cần – Nguyên Bí thư Đoàn TNCS HCM phường Thống Nhất.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 335/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 327/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 621/2024/HSST-QĐ ngày 05/7/2024; đối với:
- Các bị cáo:
- Hồ Ngọc T (tên gọi khác: không), sinh năm 1999, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không; Nơi ở hiện tại: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc T1 và bà Đà Thị Thu T2; bị cáo chưa có vợ con.
- Hồ Thị Ánh T3 (tên gọi khác: không), sinh năm 2001, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không; Nơi ở hiện tại: Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc T1 và bà Đà Thị Thu T2; bị cáo chung sống như vợ chồng với Lê Anh D (không đăng ký kết hôn, sinh năm 1991 có 01 con sinh năm 2018.
- Nguyễn Văn Thành Đ (tên gọi khác: không), sinh ngày:11/3/2008, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố L, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị L1; bị cáo chưa có vợ con.
- Nguyễn Hồng Thanh N (tên gọi khác: không), sinh ngày 19/5/2008 tại An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: Tổ A, Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Trần Thị N1; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29 tháng 11 năm 2023, chuyển tạm giam theo lệnh tạm giam số 1927/LTG-VKSBH ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt giam ngày 29 tháng 11 năm 2023, chuyển tạm giam theo lệnh tạm giam số 1928/LTG-VKSBH ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29 tháng 11 năm 2023, chuyển cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1929/LC-VKSBH ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Bị tạm giữ lại ngày 08 tháng 02 năm 2024, chuyển tạm giam theo lệnh tạm giam số 388/LTG-VKSBH ngày 09 tháng 02 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1986 và ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ cư trú hiện tại: Khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (bà L1 có mặt, ông L vắng mặt tại phiên toà).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt giam ngày 29 tháng 11 năm 2023, chuyển cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1930/LC-VKSBH ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Bị bắt giam ngày 08 tháng 02 năm 2024, chuyển tạm giam theo lệnh tạm giam số 387/LTG-VKSBH ngày 09 tháng 02 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo N: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ cư trú: Tổ A, Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (bà N1, ông H có mặt tại phiên toà)
- Người bào chữa cho bị cáo Đ, N: ông Nguyễn Doãn N2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. Ông N2 có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại:
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1993, Địa chỉ cư trú: Tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B; vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Hồ Thị L2, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Thôn F, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên toà.
- Ông Đào Thái D1 sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: K, Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Phạm Thị A, sinh năm 1986, Địa chỉ cư trú: A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên toà.
- Anh Phạm Văn Ú, sinh năm 1969; Địa chỉ cư trú: D, Tổ A, Khu phố A, phường L, thành phố B; vắng mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Anh T5, sinh năm: 1986; Địa chỉ cư trú: A, Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;có mặt tại phiên toà.
- Phạm Q, sinh năm 1983, Địa chỉ cư trú: 325, Khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên toà.
- Lê Anh D, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: 127/3, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Thanh T6, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Hồ Ngọc T, Hồ Thị Ánh T7, Nguyễn Hồng Thanh N và Nguyễn Văn Thành Đ là những đối tượng không có nghề nghiệp, nghiện ma tuý và thuê trọ sinh sống trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Để có tiền tiêu xài, các đối tượng rủ nhau đi cướp giật tài sản của người khác. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 11/2023 đến tháng 02/2024, T, N, Đ và T3 đã thực hiện các vụ cướp giật tài sản như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 08 giờ 00, ngày 25/11/2023, N, Đ và T bàn bạc với nhau đi cướp giật tài sản. N điều khiển xe mô tô wave, màu trắng, biển số 60C1-66688 chở theo Đ chạy phía trước. T đi một mình trên xe Dream màu nâu, biển số 51P3-3456 chạy theo sau với mục đích ngăn cản khi bị truy đuổi. Khi đến đoạn đường thuộc Khu phố A, phường A, thành phố B thì phát hiện anh Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1993, địa chỉ tổ A, khu phố A, phường A, B đang đi bộ trên đường và đang sử dụng điện thoại. Thấy vậy N điều khiển xe chở Đ áp sát để Đ dùng tay giật 01 điện thoại Iphone 8 plus của anh T4; sau đó các đối tượng tăng ga tẩu thoát. Cướp giật được điện thoại, N và Đ đem đến bán tại tiệm điện thoại "Minh A1" địa chỉ tổ C, khu phố E, phường L, thành phố B của Nguyễn Anh T5, sinh năm: 1986 làm chủ, còn T chạy xe về nhà trọ của Hồ Thị Ánh T3 tại khu phố C, phường L, thành phố B đứng đợi, điện thoại bán dược 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng), N, Đ, T chia nhau mỗi người 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) và đưa cho T3 200.00đồng nhưng không nói cho T3 biết đây là tiền do bán điện thoại đi cướp giật mà có.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 26/11/2023, N và Đ rủ nhau đi cướp giật tài sản. N điều khiển xe mô tô hiệu wave, biển số 51F3-3979, chở Đ ngồi sau đến đoạn đường thuộc khu phố C, phường T thì phát hiện chị Hồ Thị L2, sinh năm 1989, địa chỉ thôn F, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An đang đứng bên lề đường sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung M20, N chạy xe áp sát, Đ dùng tay giật điện thoại của chị L2 rồi tăng ga tẩu thoát, sau đó đem đến tiệm điện thoại “Minh A1” địa chỉ tổ C, khu phố E, phường L, thành phố B của Nguyễn Anh T5, sinh năm: 1986 làm chủ bán được 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng), chia mỗi người 400.000đồng, tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ 3: Khoảng 20 giờ 00 ngày 27/11/2023, N điều khiển xe mô tô hiệu wave màu trắng, biển số 51F3-3979 chở theo T ngồi sau, khi đến đoạn đường thuộc khu phố F, phường T thì phát hiện anh Đào Thái Dũng đang sử dụng 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max. N chở T chạy áp sát và T dùng tay giật điện thoại của D1, sau đó nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi cướp giật được điện thoại T và N mang điện thoại bán ở tiệm diện thoại "Minh Quang", địa chỉ 325, khu phố D, phường L, thành phố B của anh Phạm Q, sinh năm 1983 làm chủ bán được 4.700.000₫ (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) chia đều mỗi người được 2.350.000₫ (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ 4: Khoảng hơn 14 giờ 00, ngày 28/11/2023, N, Đ, T bàn bạc thống nhất cũng đi cướp giật tài sản và rủ Hồ Thị Ánh T3 cùng đi ăn uống. N điều khiển xe Dream màu nâu, biển số 51P3-3456 chở T3 ngồi sau. T điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số 51F3-3979 (số C Đ dán sửa lại thành số 8) chở Đ ngồi sau. T chở Đ chạy đi trước, N chở T3 chạy theo sau. Cả 04 đối tượng đi đến đoạn đường T, thuộc khu phố F, phường T, T chở Đ áp sát chị Phạm Thị A, sinh năm 1986, Đ ngồi sau giật diện thoại ViVo của chị A và nhanh chóng tẩu thoát về hưởng Cổng 2, sau khi giật được điện thoại thì Đ, T, N và T3 gặp nhau tại chợ C, Khu phố F, phường T. Tại đây Đ, T và N3 rủ T3 tiếp tục đi cướp giật tài sản, T3 đồng ý.
Vụ thứ 5: Cùng ngày 28/11/2023, sau khi thực hiện vụ cướp giật tài sản là điện thoại ViVo của chị Phạm Thị A, cả 04 đối tượng Thanh, Đ, N và T3 chạy đến đoạn đường thuộc khu phố E, phường T, thành phố B. T chở Đ chạy trước để giật tài sản, còn N chờ T3 đi sau mục đích ngăn cản khi bị truy đuổi, tại đây T chở Đ chạy áp sát, dùng tay phải giật điện thoại Sam Sung A20, màu đen của 01 người phụ nữ đang ngồi trên xe Lead màu vàng (chưa xác định được bị hại). Sau đó cả 04 đối tượng chạy về khu vực sau siêu thị L3, tại đây Đ qua xe Dream chở T3 đem 02 điện thoại vừa cướp giật được đi bán, còn T chở N về lại nhà trọ của T3 tại khu phố C, phường L đợi trước. Khi Đ, T3 đang liên hệ bán điện thoại thì bị Cơ quan Công an mời về làm việc và thu giữ 02 diện thoại do 04 đối tượng vừa cướp giật được, tiến hành truy xét Cơ quan Công an đưa N và T về trụ sở làm việc.
Sau khi gây ra các vụ án trên, Cơ quan Điều tra đã khởi tố vụ án và khởi bị can đối với T, N, Đ, T3 về tội “Cướp giật tài sản" theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự. Về biện pháp ngăn chặn Cơ quan điều tra cho tại ngoại phục vụ điều tra đối với Đ và N do đang tuổi vị thành niên. Trong thời gian tại ngoại Đ và N tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Vụ thứ 6: Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 08/02/2024, Nguyễn Văn Thành Đ và Nguyễn Hồng Thanh N rủ nhau đi cướp giật tài sản. N điều khiển xe mô tô 60M3-1758 chở theo Đ chạy đến trước nhà số D,Tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B thì thấy anh Phạm Văn Ú, sinh năm 1969, địa chỉ: D, Tổ A, Khu phố A, phường L, thành phố B, Đồng Nai đứng trước nhà, trên tay cầm chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen. N điều khiển xe áp sát anh Ủ để cho Đ ngồi sau dùng tay giật chiếc điện thoại, sau đó N điều khiển xe chạy ra hướng Quốc lộ E để tẩu thoát. Anh Ú tri hô cùng người dân đuổi theo khoảng 50 mét thì bắt quả tang Đ và N cùng tang vật và bàn giao Công an phường L, thành phố B xử lý và chuyển cho Công an thành phố B xác minh, giải quyết theo thẩm quyền
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra các đối tượng Thanh, T3, Đ, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
(Lời khai của các bị cáo: T tại các bút lục số 360-368; 376, T3 tại các bút lục số 376-383; 390, Đ tại các bút lục số 391-398, N tại các bút lục số 409-420; Lời khai của bị hại bút lục số 441-453; Lời khai người liên quan bút lục số 454-459; 463; 465; 479,482).
- Vật chứng vụ án:
- 01 (một) điện thoại dị động Iphone 8Plus loại 64gb (không thu giữ được).
- 01 (một) điện thoại dị động S M20 loại 32Gb (không thu giữ được).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, 128Gb, có số Seri/IMEI: 95570141138, đã trả lại cho người bị hại anh Đào Thái D1 (bút lục 354).
- 01 (một) điện thoại di động ViVo Y20, đã trả lại cho người bị hại chị Phạm Thị A (bút lục 347; 356).
- 01 (một) điện thoại Sam Sung A20, màu đen có số IMEI: 357086106158387/01, đây là tài sản của người bị hại bị cướp giật, nhưng chưa xác định được người bị hại, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau (bút lục 349).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, 128 Gb, có số Imei: 359215074096323 dã trả lại cho bị hại là anh Phạm Văn Ú (bút lục 355).
- 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 6s, điện thoại đã qua sử dụng (cũ), bể màn hình, không lên nguồn, không rõ số imei. Không kiểm tra tình trạng bên trong máy, đây là phương tiện đối tượng Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
* Phương tiện, công cụ phạm tội:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, biến số: 60M3-1758, có SM: JA39E0232056, SK: RLHJA3902HY232019, đây là phương tiện các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đối tượng Đ khai nhận mượn của 01 người tên T8 (không rõ nhân thân lai lịch). Qua xác minh, xác định xe mô tô không trùng khớp số máy, số khung, nhãn hiệu, loại xe, là phương tiện không rõ nguồn gốc, do chưa xác định chủ sở hữu nên chuyển tang vật, đề nghị tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 60C1-666.88, SM: JA390232056, SK: RLHJA3902HY232019. Đây là phương tiện các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đối tượng Hồ Ngọc T khai nhận xe mô tô mua trên mạng của người khác không rõ nhân thân lai lịch, xe không có giấy chứng nhận đăng ký. Qua xác mình, xác định xe mô tô không trùng khớp số máy, số khung, nhãn hiệu, loại xe, là phương tiện không rõ nguồn gốc, do chưa xác định chủ sở hữu nên chuyển tang vật, đề nghị tòa án nhân dân TP Biên Hòa tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhân hiệu Dream, biển số: 51P3-3456 số khung: không có, Số máy: không có, đây là phương tiện các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đối tượng Nguyễn Văn Thành Đ khai xe mô tô này mượn của Lê Anh D, sn: 1991, HKTT: 127/3, KP5, P T, TP B, Đồng Nai, làm việc với D khai nhận xe mô tô nêu trên mua lại trên mạng của người khác không rõ nhân thân lai lịch. Qua xác minh, xác định xe mô tô không trùng khớp nhãn hiệu, loại xe, là phương tiện không rõ nguồn gốc, do đó chuyển tang vật, đề nghị tòa án nhân dân TP Biên Hòa tuyên tịch thu tiêu hủy.
* Tài liệu đồ vật khác không liên quan đến việc phạm tội:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, 64Gb của Hồ Ngọc T không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hồ Ngọc T1 là cha ruột của T nhận thay (bút lục 353, 358).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, của Hồ Thị Ánh T3 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hồ Ngọc T1 là cha ruột của T3 nhận thay (bút lục 347; 359). – 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, số Imei: 3532960745422 của Nguyễn Hồng Thanh N không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị N1 là mẹ ruột N nhận thay (bút lục 348; 357).
* Kết luận định giá tài sản:
- Tại kết luận định giá số 631 ngày 01/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:
- 01 (một) điện thoại dị động VivoY20 loại 64gb trị giá 1.595.000 đồng (một triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
- 01 (một) điện thoại dị động Iphone 8Plus loại 64gb trị giá 4.200.000đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
Tổng cộng: 5.795.000đồng(năm triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
- Tại kết luận định giá số 664 ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:
- 01 (một) điện thoại dị động S M20 loại 32Gb trị giá 1.197.000đồng (một triệu một trăm chín mươi bảy ngàn đồng).
- Tại kết luận định giá số 665 ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:
- 01 (một) điện thoại dị động Iphone 13Promax loại 128Gb trị giá 15.300.000đồng (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng).
- Tại kết luận định giá số 668 ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung M20 loại 32Gb trị giá: 1.724.500đồng (Một triệu bảy trăm hai tư nghìn năm trăm đồng).
- Tại kết luận định giá số 59 ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 7Plus loại 128gb trị giá 1.996.000đồng (một triệu chín trăm chín sáu ngàn đồng).
* Về dân sự:
Bị hại anh Nguyễn Văn T4, Chị Hồ Thị L2, Anh Đào Thái D2, Anh Phạm Thị A, Anh Phạm Văn Ú không yêu cầu bồi thường. (Bút lục số: 152),
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 338/CT-VKSBH ngày 06/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố:
- Bị cáo Nguyễn Văn Thành Đ, Nguyễn Hồng Thanh N về tội: “Cướp giật tài sản”, theo điểm a, b, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Bị cáo Hồ Ngọc T, Hồ Thị Ánh T3 về tội: “Cướp giật tài sản”, theo theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng Khoản 2 Điều 171 và điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm a, g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
- 1. Bị cáo Nguyễn Văn Thành Đ: từ 03 (ba) năm đến 03(ba) năm 06 (sáu) tháng
- 2. Bị cáo Nguyễn Hồng Thanh N: từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng
+ Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171 và Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm a, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
- 1. Bị cáo Hồ Ngọc T: Từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù.
- 2. Bị cáo Hồ Thị Ánh T3: từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
-Ý kiến của người tham gia tố tụng:
+ Người bào chữa cho bị cáo N, Đ là Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước Nguyễn Doãn N2 trình bày:
Về tội danh: thống nhất về tội danh của Viện Kiểm sát đã truy tố.
Về hình phạt: việc đề xuất hình phạt đối với bị cáo N, Đ là nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc đển hoàn cảnh gia đình của các bị cáo do còn chưa thành niên, thiếu sự quan tâm của cha mẹ, chưa hiểu biết đầy đủ quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa làm lại cuộc đời.
+ Ông H, bà N1 là cha mẹ đẻ của bị cáo N xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
+ Bà L1 là mẹ đẻ của bị cáo Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
+ Bị cáo T: thống nhất với tội danh truy tố, không bào chữa gì khác.
+ Bị cáo T3: thống nhất với tội danh truy tố, không bào chữa gì khác.
+ Bị cáo N: thống nhất với tội danh truy tố, không bào chữa gì khác.
+ Bị cáo Đ: thống nhất với tội danh truy tố, không bào chữa gì khác.
- Lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý của các bị cáo được bảo đảm thực hiện.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà, các bị cáo T, T3, N, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ cuối tháng 11/2023 đến tháng 02/2024, T, N, Đ và T3 đã thực hiện các vụ cướp giật tài sản, cụ thể:
- Ngày 25/11/2023, T sử dụng xe mô tô biển số 60C1-66688 chở Đ và N sử dụng xe mô tô số 51P3-3456 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của anh T4 một điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 64Gb trị giá 4.200.000đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
- Ngày 26/11/2023, Đ và N sử dụng xe mô tô biển số 51F3-3979 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị L2 là một điện thoại di động Sam Sung M20, 32Gb trị giá: 1.197.000đồng (một triệu một trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
- Ngày 27/11/2023, Đ và N sử dụng xe mô tô số 51F3-3979 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của anh D2 là một điện thoại di động Iphone 13 P, 128Gb trị giá: 15.300.000đồng (mười lăm triệu ba trăm nghìn đồng).
- Ngày 28/11/2023, N điều khiển xe mô tô biển số 51P3-3456, còn T và Đ điều khiển xe mô tô biển số 51F3-3979 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị A là một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20, 64gb, trị giá 1.595.000đồng (một triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng);
- Ngày 28/11/2023, N điều khiển xe mô tô biển số 51P3-3456 chở T3, còn T điều khiển xe mô tô biển số 51F3-3979 chở Đ thực hiện hành vi cướp giật tài sảncủa bị hại chưa rõ thông tin lai lịch một điện thoại di động hiệu Sam Sung A20 có giá trị 1.724.500đồng (một triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
- Ngày 08/02/2024, Đ và N sử dụng xe mô tô biển số 60M3-1758 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của anh Phạm Văn Ú là một điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, 128 Gb, trị giá 1.996.000đồng (một triệu một trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo N thực hiện 06 lần hành vi cướp giật tài sản, Đ thực hiện 05 lần hành vi cướp giật tài sản, T thực hiện 03 lần hành vi cướp giật tài sản; là các bị cáo giữ vai trò cầm đầu và thực hiện hành vi cướp giật tài sản một cách tích cực, có bàn bạc phân công nhiệm vụ khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, riêng bị cáo T3 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản và là đồng phạm giúp sức trong việc thực hiện hành vi phạm tội nêu trên.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định Nguyễn Hồng Thanh N, Nguyễn Văn Thành Đ, Hồ Ngọc T, Hồ Thị Ánh T3 phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại a, b, d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 338/CT-VKSBH ngày 06/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Nguyễn Hồng Thanh N, Nguyễn Văn Thành Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Xét các vụ án có sự tham gia của T, T3 có tính chất đồng phạm, có tính chuyên nghiệp và dùng thủ đoạn nguy hiểm nhưng Kiểm sát viên đề nghị truy tố với tình tiết thủ đoạn chuyên nghiệp theo điểm d khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là chưa đủ.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã cố tình xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi Cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo N, Đ trong thời hạn tại ngoại mà vẫn thực hiện hành vi cướp giật tài sản thể hiện sự coi thường phát luật.
- Về tính chất đồng phạm và vai trò của bị cáo trong từng tội danh:
Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo N thực hiện 06 lần hành vi cướp giật tài sản, Đ thực hiện 05 lần hành vi cướp giật tài sản, T thực hiện 03 lần hành vi cướp giật tài sản là các bị cáo T, N, Đ đều giữ vai trò cầm đầu và thực hiện hành vi cướp giật tài sản một cách tích cực, có bàn bạc phân công nhiệm vụ khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo T3 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản với vai trò giúp sức bằng việc đi theo phía sau khi các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích ngăn cản bị truy đuổi.
- Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N, Đ, T, T3 đã lần lượt thực hiện 06 lần, 05 lần, 03 lần, 02 lần cướp giật tài sản và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm; thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
Tại thời điểm phạm tội ngày 25/11/2023, 26/11/2023, 27/11/2023, 28/11/2023, 08/02/2024 thì bị cáo N, Đ chưa đủ 16 tuổi. Do đó bị cáo N và Đ được áp dụng tình tiết người từ đủ 14 đến 16 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, 101 BLHS năm 2015, mức hình phạt tù không quá 1/2 mức hình phạt đối với người đã thành niên.
Đối với bị cáo Nguyễn Hồng Thanh N và bị cáo Nguyễn Văn Thành Đ mặc dù xuất phát từ nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, như quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N và bị cáo Đ đã nhận thức rõ được hành vi sai trái của mình để sửa chữa, khắc phục và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, các bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn là tại ngoại cấm đi khỏi nơi cư trú trong thời gian tại ngoại các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật, bị cáo N và bị cáo Đ có 02 tình tiết tăng nặng nên cần áp dụng tù có thời hạn đối bị cáo Nguyễn Hồng Thanh N và bị cáo Nguyễn Văn Thành Đ với để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Hồ Ngọc T và bị cáo Hồ Thị Ánh T3.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Người bị hại là anh Nguyễn Văn T4, Chị Hồ Thị L2, Anh Đào Thái D2, chị Phạm Thị A, Anh Phạm Văn Ú không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét và sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Đối với bị hại (trong vụ thứ 5) do chưa xác định được lai lịch nên sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi đã xác minh được lai lịch và bị hại có yêu cầu.
[4] Về vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Nguyễn Anh T5, ông Phạm Q đã có hành vi mua các tài sản do các bị cáo chiếm đoạt được nhưng khi mua ông T5, ông Q không biết đó là tài sản do hành vi phạm tội nên Cơ quan Điều tra không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, 128Gb, có số Seri/IMEI: 95570141138 cho anh Đào Thái D2 là chủ sở hữu, 01 (một) diện thoại di động ViVo Y20 cho chị Phạm Thị A là chủ sở hữu; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, 128 Gb, có số Imei: 359215074096323 cho anh Phạm Văn Ú là chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với 01 (một) điện thoại Sam Sung A20, màu đen có số IMEI: 357086106158387/01, đây là tài sản của người bị hại bị cướp giật, nhưng chưa xác định được người bị hại, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật nên cần tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau
+ Đối với 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone X, 64Gb của Hồ Ngọc T không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hồ Ngọc T1 là cha ruột của T nhận thay; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus của Hồ Thị Ánh T3 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hồ Ngọc T1 là cha ruột của T3 nhận thay; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số I: 35329607454221của Nguyễn Hồng Thanh N không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị N1 là mẹ ruột N nhận thay là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 6s, điện thoại đã qua sử dụng (cũ), bể màn hình, không lên nguồn, không rõ số imei. Không kiểm tra tình trạng bên trong máy, đây là phương tiện đối tượng Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội tịch thu sung công quỹ nhà nướclà quy định pháp luật.
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, biển số: 60M3-1758, có SM: JA39E0232056, SK: RLHJA3902HY232019; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 60C1-666.88, SM: JA39E0232056. SK: RLHJA3902HY232019; 01 xe mô tô nhân hiệu Dream, biển số: 51P3-3456 số khung: không có, Số máy: không có là các phương tiện các đối tượng sử dụng dễ thực hiện hành vi phạm tội, không rõ nguồn gốc cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận phần phù hợp
- Đối với phần trình bày của người bào chữa cho các bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận phần phù hợp.
- Đối với phần trình bày của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ1, N được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Xác định các bị cáo Nguyễn Hồng Thanh N, Nguyễn Văn Thành Đ, Hồ Ngọc T, Hồ Thị Ánh T3 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a, b, d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử hình phạt: xử phạt Nguyễn Hồng Thanh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/11/2023 đến ngày 08/12/2023.
- Áp dụng a, b, d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử hình phạt: xử phạt Nguyễn Văn Thành Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/11/2023 đến ngày 08/12/2023.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử hình phạt: xử phạt Hồ Ngọc T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử hình phạt: xử phạt Hồ Thị Ánh T3 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023
2. Về vật chứng:
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 46; điểm a, c Khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, biển số: 60M3-1758, có SM: JA39E0232056, SK: RLHJA3902HY232019; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 60C1-666.88, SM: JA39E0232056. SK: RLHJA3902HY232019; 01 xe mô tô nhân hiệu Dream, biển số: 51P3-3456.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, điện thoại đã qua sử dụng (cũ), bể màn hình, không lên nguồn, không rõ số imei. Không kiểm tra tình trạng bên trong máy.
+ 01 Xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số: 51P3-3456; Số khung: Không có; Số máy: Không có. Đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy.
+ 01 Xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số: 60C1-666.88; Số máy: JA39E0232056; Số khung: RLHJA3902HY232019. Đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy.
+ 01 Xe mô tô nhãn hiệu Attila, biển số: 60N3-1758, Số máy: VMM9BE-D021706; Số khung: RLGH125GD7D021706. Đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong máy.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 Biển số xe mô tô 51F3-3979.
Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật Trẻ em, Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Hồ Ngọc T, Hồ Thị Ánh T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Hồng Thanh N, Nguyễn Văn Thành Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 366/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản (theo điều 171 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 366/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (theo Điều 171 Bộ luật Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Ngọc Thanh và Đp phạm tội cướp giật tài sản
