|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 366/2024/DS - ST
Ngày: 21 - 10 - 2024
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Trang.
Các Hội thẩm nhân dân
- Bà Trần Thị Dung
- Bà Hồ Thị Kim Luyến
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thái Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 729/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T1 (Ngân hàng T1).
Địa chỉ trụ sở: 1 H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ liên hệ: A L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
Địa chỉ: số C phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Đại diện ủy quyền: Ông Huỳnh Đức T (GUQ số 459/2024/GUQ-CB ngày 06/8/2024).
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1988 – vắng mặt.
Ông Ngô Thanh P, sinh năm 1991 – vắng mặt.
Địa chỉ: Số C đường số B tổ C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam trình bày:
Ngân hàng T1 và bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký Hợp đồng tín dụng số 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022. Theo đó, Ngân hàng T1 - Chi nhánh C cho bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P vay 2.200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm triệu đồng). Để đảm bảo khoản vay trên, bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký với Ngân Hàng T1 Hợp đồng thế chấp số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022.
Ngân hàng T1 và bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký Hợp đồng tín dụng số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022. Theo đó, Ngân hàng T1 - Chi nhánh C cho bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P vay 2.800.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ tám trăm triệu đồng). Để đảm bảo khoản vay trên, bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký với Ngân Hàng T1 Hợp đồng thế chấp số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022.
Thông tin khoản vay và tài sản đảm bảo chi tiết như sau:
- - Hợp đồng tín dụng số: 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Số tiền cho vay: 2.200.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động. Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 12/05/2022 đến ngày 12/05/2023). Lãi suất vay: Cố định 9,5%/năm suốt thời gian vay. Lãi phạt nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn trả nợ: Nợ gốc: Cuối kỳ. Nợ lãi: Vào ngày 01 hàng tháng. Nợ gốc được trả thành 1 kỳ. Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 2.200.000.000 đồng. Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 2.200.000.000 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Số tiền cho vay: 2.800.000.000 đồng. Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở. Thời hạn vay: 240 tháng (từ ngày 28/09/2022 đến ngày 28/09/2024). Lãi suất vay: Lãi suất cho vay 12 tháng đầu: 8,8%/năm. Lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên: 28/09/2023. Lãi suất sau điều chỉnh = Lãi suất cơ sở 24 tháng + Biên độ 3,5%/năm. Lãi phạt nợ gốc quá hạn : Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn trả nợ: Nợ gốc: Vào ngày 01 hàng tháng. Nợ lãi: Vào ngày 01 hàng tháng. Nợ gốc được trả thành 240 kỳ. Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 11.666.667 đồng. Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 11.666.587 đồng.
Thông tin tài sản đảm bảo:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ số 81, địa chỉ: Khu V, phường A, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 780784, số vào sổ cấp GCN: CS13874 do Sở T2 cấp ngày 14/09/2017, cập nhật chỉnh lý ngày 01/10/2021. Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022, được công chứng tại Văn Phòng C1, TP . (số công chứng: 4802, quyển số 01/2022/ TP/CC - SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, TP . ngày 12/05/2022.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 275, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khu V, đường nối QL91B với đường C, phường A, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DE 843787, số vào sổ cấp GCN: CS26896 do Sở T2 cấp ngày 07/07/2022, cập nhật biến động gần đây nhất ngày 15/09/2022. Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022, được công chứng tại Văn Phòng C2, TP. (số công chứng: 4492, quyển số 01/2022 TP/CC - SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, TP . ngày 28/09/2022.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 21/10/2024, bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã trả cho Ngân hàng T1 tổng số tiền là: 393.197.923 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Nợ gốc đã trả: 0 đồng. Nợ lãi đã trả: 185.341.624 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Nợ gốc đã trả: 84.857.601 đồng. Nợ lãi đã trả: 122.998.698 đồng.
Tạm tính đến ngày 21/10/2024, tổng số tiền bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P còn nợ Ngân hàng T1 là: 5.915.915.684 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số: 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Dư nợ gốc: 2.200.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 23.476.712 đồng. Lãi chậm trả lãi: 3.413.340 đồng. Lãi quá hạn gốc: 453.501.370 đồng. Tổng cộng: 2.680.391.422 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2024 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2024 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- - Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Dư nợ gốc: 2.715.142.399 đồng. Nợ lãi trong hạn: 459.876.155 đồng. Lãi chậm trả lãi: 32.262.359 đồng. Lãi quá hạn gốc: 28.243.349 đồng. Tổng cộng: 3.235.524.262 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2023 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2023 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký, cụ thể bắt đầu từ kỳ thanh toán ngày 01/05/2023 bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã không đóng nợ gốc, nợ lãi đúng hạn theo quy định (sao kê kèm theo). Do đó, Ngân hàng T1 đã ban hành Quyết định số 1371/2023/QĐ-CB ngày 29/08/2023 về việc chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn cả gốc và lãi của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P.
Ngày 30/07/2024, Ngân hàng T1 đã thực hiện việc bán khoản nợ của khách hàng bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P tại Ngân hàng T1 (Bao gồm toàn bộ giá trị nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và các chi phí liên quan đến khoản nợ) cho Bên mua nợ là Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (sau đây gọi tắt là “VAMC”) theo Hợp đồng mua bán nợ số 1199/2023/MBN.VAMC-CB ngày 18/12/2023. Cùng ngày, VAMC cũng ủy quyền cho Ngân hàng T1 tham gia công tác tố tụng và nhiều nội dung khác liên quan đến khoản nợ theo Hợp đồng ủy quyền số 1200/2023/UQ.VAMC-CB.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của VAMC, kính đề nghị Quý Tòa thụ lý, giải quyết những vấn đề sau đây đối với bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P, tuyên buộc:
- Bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho VAMC với tổng số tiền là: 5.915.915.684 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số: 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Dư nợ gốc: 2.200.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 23.476.712 đồng. Lãi chậm trả lãi: 3.413.340 đồng. Lãi quá hạn gốc: 453.501.370 đồng. Tổng cộng: 2.680.391.422 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2024 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2024 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- - Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Dư nợ gốc: 2.715.142.399 đồng. Nợ lãi trong hạn: 459.876.155 đồng. Lãi chậm trả lãi:32.262.359 đồng. Lãi quá hạn gốc: 28.243.349 đồng. Tổng cộng: 3.235.524.262 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2023 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2023 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- Bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại cho VAMC theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022 và Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022 mà bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký kết với Ngân hàng T1 kể từ ngày 22/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì VAMC được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022 để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đối với VAMC. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P tại VAMC thì bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho VAMC.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn tranh luận:
- Giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như sau:
- Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho VAMC với tổng số tiền là: 5.915.915.684 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số: 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Dư nợ gốc: 2.200.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 23.476.712 đồng. Lãi chậm trả lãi: 3.413.340 đồng. Lãi quá hạn gốc: 453.501.370 đồng. Tổng cộng: 2.680.391.422 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2024 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2024 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- - Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Du nợ gốc: 2.715.142.399 đồng. Nợ lãi trong hạn: 459.876.155 đồng. Lãi chậm trả lãi:32.262.359 đồng. Lãi quá hạn gốc: 28.243.349 đồng. Tổng cộng: 3.235.524.262 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2023 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2023 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại cho VAMC theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022 và Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022 mà bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký kết với Ngân hàng T1 kể từ ngày 22/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì VAMC được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022 để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đối với VAMC. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P tại VAMC thì bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho VAMC.
Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm liên quan đến vụ án như sau (kèm theo bài phát biểu tại phiên tòa):
Về tố tụng:
- - Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực quy định tại Điều 30 về thẩm quyền giải quyết vụ án, Điều 68, về tư cách tham gia tố tụng Điều 195, 196 về trình tự thụ lý và giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định, xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thực hiện đúng quy định.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Vụ án đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 48, Điều 49 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Qua các tài liệu trong hồ sơ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho VAMC với tổng số tiền là: 5.915.915.684 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số: 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Dư nợ gốc: 2.200.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 23.476.712 đồng. Lãi chậm trả lãi: 3.413.340 đồng. Lãi quá hạn gốc: 453.501.370 đồng. Tổng cộng: 2.680.391.422 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2024 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2024 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- - Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Dư nợ gốc: 2.715.142.399 đồng. Nợ lãi trong hạn: 459.876.155 đồng. Lãi chậm trả lãi:32.262.359 đồng. Lãi quá hạn gốc: 28.243.349 đồng. Tổng cộng: 3.235.524.262 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2023 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2023 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại cho VAMC theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022 và Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022 mà bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã ký kết với Ngân hàng T1 kể từ ngày 22/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì VAMC được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022 để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đối với VAMC. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P tại VAMC thì bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho VAMC.
Tòa tính án phí theo quy định.
Trên đây là ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả được thẩm tra công khai tại phiên toà và dựa vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P đã được triệu tập nhưng vắng mặt nhiều lần do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và hiện nay phía bị đơn không thực hiện việc trả nợ gốc, nợ lãi nên đã phát sinh tranh chấp. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1 Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc của nguyên đơn:
Nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (gọi tắt là VAMC) khởi kiện và yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P thanh toán nợ theo 02 Hợp đồng tín dụng 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11 tháng 05 năm 2022 (gọi tắt là HĐTD số 9) và số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28 tháng 09 năm 2022 (gọi tắt là HĐTD số 213). Phía nguyên đơn đã cung cấp được bản sao của 02 hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ và các bảng kê chiết tính các khoản nợ gốc, nợ lãi nên xác định bị đơn còn nợ vốn gốc của HĐTD số 9 là 2.200.000.000 đồng, nợ gốc của HĐTD số 213 là 2.715.142.399 đồng. Do đó với những chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P có vay vốn tại Ngân hàng TMCP T1 và chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, nay Ngân hàng TMCP T1 khởi kiện và đã bán nợ cho VAMC nên VAMC yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ vốn gốc như nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
3.2 Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi của nguyên đơn:
Đối với yêu cầu tính lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi và lãi quá hạn gốc của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên mà bên Ngân hàng TMCP T1 và bị đơn đã ký về việc áp dụng lãi suất trong hạn cũng như việc điều chỉnh lãi qua các lần, các bên đều có thỏa thuận trong hợp đồng và hợp đồng đã có hiệu lực, được các bên thực hiện một khoảng thời gian nên việc nguyên đơn VAMC yêu cầu bị đơn trả nợ lãi trong hạn là có căn cứ.
Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả lãi và lãi quá hạn gốc của nguyên đơn đối với bị đơn theo HĐTD số 9 và số 213, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào 02 hợp đồng tín dụng nêu trên có quy định lãi suất quá hạn tại mục 3.3 Điều 3 của 02 hợp đồng và phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Do vậy, yêu cầu tính lãi chậm trả lãi và lãi quá hạn gốc của nguyên đơn cũng có căn cứ chấp nhận.
Ngoài ra, bị đơn vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ gốc còn lại của 02 hợp đồng tín dụng tính từ ngày tiếp theo là ngày 22/10/2024 cho đến khi bị đơn trả xong nợ cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của 02 hợp đồng tín đã ký.
3.3 Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022 (gọi tắt là HĐTC số 9) và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022 (gọi tắt là HĐTC số 213) để thu hồi nợ tại Văn phòng C1, thành phố Cần Thơ của nguyên đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng, HĐTD số 9, số 213 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là các Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản, việc bị đơn thế chấp các tài sản là:
- - Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ số 81, địa chỉ: Khu V, phường A, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 780784, số vào sổ cấp GCN: CS13874 do Sở T2 cấp ngày 14/09/2017, cập nhật chỉnh lý ngày 01/10/2021. Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022, được công chứng tại Văn Phòng C1, TP . (số công chứng: 4802, quyển số 01/2022/ TP/CC - SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, TP . ngày 12/05/2022.
- - Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 275, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khu V, đường nối QL91B với đường C, phường A, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DE 843787, số vào sổ cấp GCN: CS26896 do Sở T2 cấp ngày 07/07/2022, cập nhật biến động gần đây nhất ngày 15/09/2022. Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022, được công chứng tại Văn Phòng C2, TP . (số công chứng: 4492, quyển số 01/2022 TP/CC - SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, TP . ngày 28/09/2022.
Như vậy, 02 hợp đồng thế chấp nêu trên đã được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 317, 318, 319, 320, 322, 323, 325 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên đơn yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ là có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu: Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho VAMC đến khi trả nợ xong. Hội đồng xét xử căn cứ vào mục 6.6 Điều 6 của 02 HĐTC số 9 và 213 có ghi nhận sự thỏa thuận này nên yêu cầu này của nguyên đơn cũng có căn cứ chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều là thống nhất với quan điểm của Hội đồi xét xử nên ghi nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí tương ứng: 112.000.000đ + 0.1% (phần vượt quá 04 tỷ đồng) = 113.915.915 đồng (một trăm mười ba triệu chín trăm mười lăm nghìn chín trăm mười lăm đồng).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn - Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam được nhận lại 56.554.000 đồng (năm mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000801 ngày 16/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
[5] Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải chịu 10.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bộ S năm 2017); Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T1 – Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P.
- - Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T1 – Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam số nợ gốc và lãi của 02 hợp đồng tín dụng hạn với tổng số tiền là: 5.915.915.684 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số: 9/2022/24101/08.1.HĐTD/050 ngày 11/05/2022: Dư nợ gốc: 2.200.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 23.476.712 đồng. Lãi chậm trả lãi: 3.413.340 đồng. Lãi quá hạn gốc: 453.501.370 đồng. Tổng cộng: 2.680.391.422 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2024 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2024 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- - Hợp đồng tín dụng số: 213/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 28/09/2022: Dư nợ gốc: 2.715.142.399 đồng. Nợ lãi trong hạn: 459.876.155 đồng. Lãi chậm trả lãi:32.262.359 đồng. Lãi quá hạn gốc: 28.243.349 đồng. Tổng cộng: 3.235.524.262 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 21/10/2023 và tiếp tục phát sinh từ ngày 22/10/2023 cho đến khi bên vay trả hết nợ).
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ còn lại của 02 hợp đồng tín dụng nêu trên tính từ ngày tiếp theo là ngày 22/10/2024 cho đến khi bị đơn trả xong nợ cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của 02 hợp đồng tín dụng đã ký.
- Trường hợp bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng TMCP T1 – Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam có quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp theo 02 hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ, tài sản thế chấp gồm:
- - Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ số 81, địa chỉ: Khu V, phường A, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 780784, số vào sổ cấp GCN: CS13874 do Sở T2 cấp ngày 14/09/2017, cập nhật chỉnh lý ngày 01/10/2021. Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9/2022/24101/HĐTC/050 ngày 12/05/2022, được công chứng tại Văn Phòng C1, TP . (số công chứng: 4802, quyển số 01/2022/ TP/CC - SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, TP . ngày 12/05/2022.
- - Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 275, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khu V, đường nối QL91B với đường C, phường A, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DE 843787, số vào sổ cấp GCN: CS26896 do Sở T2 cấp ngày 07/07/2022, cập nhật biến động gần đây nhất ngày 15/09/2022. Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 213/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 28/09/2022, được công chứng tại Văn Phòng C2, TP . (số công chứng: 4492, quyển số 01/2022 TP/CC - SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, TP . ngày 28/09/2022.
2. Về án dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 113.915.915 đồng (một trăm mười ba triệu chín trăm mười lăm nghìn chín trăm mười lăm đồng).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn - Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam được nhận lại 56.554.000 đồng (năm mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000801 ngày 16/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Ngô Thanh P phải chịu 10.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn bà Thúy A và ông P phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng.
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ở địa phương nơi cư trú.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 366/2024/DS - ST ngày 21/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 366/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Xây dựng kiện anh Phương
