|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 366/2024/DS-PT Ngày: 08-8-2024. V/v:“yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy GCNQSDĐ và chia di sản thừa kế”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ; ông Trần Thanh Tòng.
Thư ký phiên tòa: ông Lâm Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 218/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 tranh chấp về việc “yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 290/2024/QĐPT-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 1969, nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bà Trương Thị M: bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1992, nơi cư trú: Số H, Đường N, Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 27/12/2023); có mặt.
1
2
- Bị đơn: ông Trương Văn H, sinh năm 1973, nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trương Văn H2, sinh năm 1961; có mặt.
- Bà Trương Thị S, sinh năm 1963; vắng mặt.
- Ông Trương Văn P, sinh năm 1967; vắng mặt.
- Ông Trương Văn H3, sinh năm 1970; vắng mặt.
- Ông Trương Văn M2, sinh năm 1975; có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1986;
- Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1984;
- Anh Lê Chí C, sinh năm 1996, nơi cư trú: tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người kháng cáo: bà Trương Thị M - nguyên đơn.
Người đại diện hợp pháp cho ông Trương Văn H: bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 24/4/2023); có mặt.
Cùng nơi cư trú: tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn H2, bà Trương Thị S, ông Trương Văn H3, ông Trương Văn M2: chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2000, nơi cư trú: số H, Nguyễn Chí T1, khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2023 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Cụ Hà Thị T3 và cụ Trương Văn L là vợ chồng, chung sống có các con chung gồm: bà Trương Thị M, ông Trương Văn H2, bà Trương Thị S, ông Trương Văn P, ông Trương Văn H, ông Trương Văn H3 và ông Trương Văn M2.
Trước năm 1975, các cụ sống ở Campuchia. Năm 1975, về Việt Nam sinh sống và được Nhà nước cấp cho quản lý sử dụng một phần đất tọa lạc tại chợ T6 cũ. Năm 1982 cụ L chết, đến năm 1995 cụ T3 tiến hành làm thủ tục đăng ký kê
3
khai phần đất đang sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ). Ngày 07/11/2013, cụ T3 tặng cho ông Trương Văn H toàn bộ phần đất bà được cấp giấy diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 cũ), theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (viết tắt là HĐTCQSDĐ) ngày 07/11/2013 được Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Tân Lập chứng thực vào ngày 08/11/2013 và ông H đã được cấp GCNQSDĐ các phần diện tích đất được tặng cho. Tuy nhiên, đất này là tài sản chung của cụ T3, và cụ L tại thời điểm cụ T3 tặng cho ông H. Mặt khác, cụ T3 bị bệnh tai biến liệt nửa người, không còn đủ minh mẫn và cũng không biết chữ nhưng UBND xã T không có người làm chứng khi chứng thực HĐTCQSDĐ là không đúng quy định của pháp luật nên HĐTCQSDĐ do cụ T3 và ông H xác lập ngày 08/11/2013 là không có giá trị pháp lý.
Nay bà Trương Thị M khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố HĐTCQSDĐ do UBND xã T chứng thực số 32, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 08/11/2013 liên quan đến phần diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 củ) là vô hiệu và yêu cầu hủy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B0 036894, số vào sổ cấp GCN CH 01172, thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28, diện tích 619 m² do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Trương Văn H ngày 02/12/2013. Ngoài ra, do cụ T3 chết nhưng không để lại chúc nên bà M yêu cầu chia di sản thừa kế phần đất diện tích 619 m² thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo quy định của pháp luật. Trong đó, bà M có nguyện vọng được nhận tài sản thừa kế bằng hiện vật là toàn bộ diện tích đất tài sản có trên đất và đồng ý hoàn trả cho các đồng thừa kế khác giá trị bằng tiền tương đương với một suất thừa kế mà họ được hưởng theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị H1 và bị đơn trình bày:
Ông Trương Văn H là chồng của bà. Bà xác định về họ tên cha mẹ chồng anh, chị, em chồng, ngày mất của cha mẹ chồng như lời trình bày của nguyên đơn là đúng. Ông H không rõ nguồn gốc hình thành tài sản của cụ T3, chỉ biết cụ Hà Thị T3 đứng tên trong GCNQSDĐ, do đó cụ T3 toàn quyền quyết định đối với phần diện tích đất này, trong đó có quyền tặng cho ông H. Tại thời điểm cụ T3 xác lập hợp đồng tặng cho đất thì cụ T3 vẫn hoàn toàn minh mẫn. Hiện ông H đã được cấp GCNQSDĐ, xây dựng công trình nhà ở kiên cố trên đất và sử dụng ổn định đất từ đó đến nay.
Nay ông H không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M.
Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của ông Trương Văn H2, bà Trương Thị S, ông Trương Văn H3, ông Trương Văn M2 là chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
4
Ông Trương Văn H2, bà Trương Thị S, ông Trương Văn H3, ông Trương Văn M2 yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nếu yêu cầu chia di sản thừa kế của bà M được chấp nhận thì các đương sự có nguyện vọng được nhận phần di sản thừa kế bằng hiện vật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trương Văn P trình bày:
Ông yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp do bà Trương Thị M khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:
Vợ chồng anh có thuê một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 của ông H từ tháng 4/2023 để kinh doanh buôn bán, các bên thỏa thuận tiền thuê mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian thuê không xác định. Đối với tranh chấp giữa bà Trương Thị M và ông Trương Văn H thì anh chị, không có ý kiến, anh chị có nguyện vọng được tiếp tục thuê.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Chí C trình bày:
Vào ngày 16/4/2023, anh có thuê một phần diện tích đất của ông H để kinh doanh, giá thuê mỗi tháng 2.500.000 đồng, thời gian thuê từ ngày 16/4/2023 đến ngày 16/4/2024. Đối với tranh chấp giữa bà Trương Thị M và ông Trương Văn H thì anh không có ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà là vợ của ông Trương Văn H, bà thống nhất với ý kiến của ông Trương Văn H, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
- Căn cứ vào các điều 467, 722, 723, 724, 725, 726 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực; Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất; các điều 166, 609, 612, 613, 623 của Bộ luật Dân sự; các điều 147, 155, 156, 157, 163, 164, 165, 166, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M đối với ông Trương Văn H liên quan đến các yêu cầu:
+ Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T chứng thực số 32, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 08/11/2013 liên quan đến phần diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 cũ) vô hiệu.
5
+ Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B0 036894, số vào sổ cấp GCN CH 01172, thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28, diện tích 619 m² do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Trương Văn H ngày 02/12/2013;
+ Yêu cầu tranh chấp di sản thừa kế phần đất diện tích 619 m² thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 27/5/2024, bà Trương Thị M kháng cáo; yêu cầu sửa án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà M trình bày:
+ Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận khởi kiện của bà.
+ Đối với yêu cầu chia thừa kế diện tích 619 m² thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bà thay đổi khởi kiện không yêu cầu chia thừa kế mà yêu cầu Toà án công nhận di sản dùng vào việc thờ cúng.
+ Lúc còn sống mẹ bà có bán 01 phần đất cho ông H3, ông M2 mỗi người khoảng 01 ha, sau đó kêu ông H làm thủ tục tặng cho ông H3, ông H vì thời điểm này đất do ông H đứng tên.
- Ông H2 trình bày: ban đầu anh em ông không tranh chấp đất này với ông H nhưng do ông H có ý định bán đất do cha mẹ để lại, ông yêu cầu ông H nếu có bán thì bán cho ông M2, ông H đồng ý nhận tiền cọc của ông M2 sau đó không bán nên ông bàn với anh em để bà M khởi kiện, ông không yêu cầu chia thừa kế đất trên mà thống nhất với bà M là đề nghị Tòa án công nhận diện tích 619 m² thửa đất số 19 nêu trên là di sản dùng vào việc thờ cúng.
- Ông M2 trình bày: ông không yêu cầu chia thừa kế đất trên mà thống nhất với bà M là đề nghị Toà án công nhận diện tích 619 m² thửa đất số 19 nêu trên là di sản dùng vào việc thờ cúng. Nguyên nhân tranh chấp là do ông H kêu bán đất này, ông đứng ra mua trả tiền cọc xong thì ông H không bán nữa, sợ ông H bán cho người khác nên anh em thống nhất để bà M đứng ra khởi kiện tranh chấp.
- Bà H1 trình bày: không chấp nhận kháng cáo của bà M. Đất này vợ chồng bà hiện đã xây nhà ở và không có ý định bán, giỗ cha mẹ vợ chồng bà đều thực hiện đầy đủ.
* Phần tranh luận:
- Bà M1 trình bày:
+ Cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng là bỏ lọt người tham gia tố tụng. Cụ thể: cụ
6
T3, cụ L còn có 01 người con là ông Trương Văn T4 (chết), ông T4 có 01 người con gái là chị Trương Thị T5 hiện ở Long An (không rõ địa chỉ);
+ Toà án không đưa UBND xã T tham gia tố tụng;
+ Hợp đồng tặng cho giữa cụ T3 và ông H không hợp pháp do cụ T3 không có sức khỏe tốt, không biết chữ nhưng không có người làm chứng;
+ Nguồn gốc đất này Nhà nước cấp cho cha mẹ bà M chứ không phải cấp cho cá nhân cụ T3.
+ Việc cụ T3 lăn tay trong HĐTCQSDĐ không ghi rõ ngón tay nào, trong khi lời chứng ghi là chứng tại trụ sở UBND xã T nhưng bà H1 nói cán bộ tư pháp đem hợp đồng đến tận nhà cụ T3 cho cụ lăn tay điểm chỉ.
Do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
- Bà H1 không tranh luận, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông H2, ông M2: không tranh luận.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đương sự kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Các đương sự anh Lê Chí C, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị Hồng N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
[1.3] Tại phiên tòa bà M1 (đại diện cho bà M) trình bày cấp sơ thẩm bỏ lọt người thừa kế và đề nghị huỷ án sơ thẩm là không có căn cứ. Bởi lẽ: tại Tờ tường trình về quan hệ nhân thân ngày 28/3/2023 của bà Trương Thị M “Bút lụt số 21” thể hiện anh chị em ruột của bà M gồm: bà Trương Thị M, ông Trương
7
Văn H2, bà Trương Thị S, ông Trương Văn P, ông Trương Văn H, ông Trương Văn H3 và ông Trương Văn M2 không có người nào tên Trương Văn T4 (chết) có con là Trương Thị T5. Tại Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ các đương sự cũng không trình bày vấn đề này nên không có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của bà M1.
[2] Về nội dung: bà M yêu cầu tuyên bố HĐTCQSDĐ do UBND xã T chứng thực số 32, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 08/11/2013 liên quan đến phần diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 cũ) vô hiệu, yêu cầu hủy GCNQSDĐ số B0 036894, số vào sổ cấp GCN CH 01172, thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28, diện tích 619 m² do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Trương Văn H ngày 02/12/2013 và yêu cầu công nhận phần đất trên là di sản dùng vào việc thờ cúng. Phía bị đơn không đồng ý.
[3] Xét kháng cáo của bà M thấy rằng:
[3.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp giữa các đương sự được Nhà nước cấp cho một mình cụ T3 vào năm 1995 diện tích khoảng 40.000 m² (không phải đất khai phá, không phải đất chuyển nhượng). Năm 2012, cụ T3 đã bán hơn 10.000 m² cho bà N, ông H3 (nguyên đơn không tranh chấp). Năm 2013, cụ T3 tặng cho ông H 28.900 m² gồm đất xây nhà và đất rẫy, sau đó cụ T3 tiếp tục bán cho ông Trương Văn M2 là anh ruột ông H diện tích đất 20.000 m² và yêu cầu ông H làm hợp đồng chuyển nhượng với ông M2 (vì thời điểm này ông H đang đứng tên GCNQSDĐ) bà M và các đương sự khác không ai tranh chấp. Hiện ông H chỉ còn đất thổ cư 619 m² đang sử dụng (nguyên đơn tranh chấp).
[3.2] Đối với yêu cầu tuyên bố HĐTCQSDĐ do cụ Hà Thị T3 với ông Trương Văn H xác lập vào ngày 07/11/2013 đối với phần đất có diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 cũ), tọa lạc tại ấp T được các bên thực hiện bằng văn bản và được UBND xã T, huyện T chứng thực vào ngày 08/11/2023. Nguyên đơn cho rằng tại thời điểm cụ T3 xác lập hợp đồng này thì cụ T3 không còn minh mẫn, không đủ sức khoẻ và có thời gian điều trị tại Bệnh viện Đ. Tuy nhiên, kết quả xác minh tại Bệnh viện Đ theo yêu cầu của nguyên đơn thể hiện“cụ Hà Thị T3 từ ngày 01/01/2012 đến 31/12/2012 và 01/01/2013 đến 31/12/2013 không có nhập viện tại Bệnh viện Đ”, kết quả xác minh tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh huyện T thể hiện: “bà Hà Thị T3 đăng ký kê khai phần diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 cũ) diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của cá nhân bà Hà Thị T3”. Xét thấy, tại thời điểm chứng thực HĐTCQSDĐ và nội dung chứng thực đã xác định việc giao kết tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T3 với ông H là do các bên tự nguyện, chủ thể giao dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cụ
8
T3 đã được cán bộ chứng thực đọc, nghe nội dung, đã ký tên/điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt của người có thẩm quyền thực hiện việc chứng thực của UBND xã T, huyện T, phù hợp quy định tại khoản 5.1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp - Bộ T7 và tại khoản 3 Điều 41 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định về công chứng, chứng thực. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm thì bà M, ông M2, ông H2 trình bày là “ban đầu anh em không tranh chấp đất này với ông H nhưng do ông H có ý định bán đất cha mẹ để lại, ông H2 yêu cầu ông H nếu có bán thì bán cho ông M2, ông H đồng ý nhận tiền cọc của ông M2, sau đó không bán nên ông H2 bàn với anh em để bà M khởi kiện tranh chấp”. Điều đó chứng tỏ các đương sự đã công nhận đất này thuộc quyền sử dụng của ông H nên mới có ý định mua lại. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.
[3.3] Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B0 036894 do UBND huyện T cấp cho ông Trương Văn H ngày 02/12/2013 thấy rằng: do đã có căn cứ xác định HĐTCQSDĐ giữa cụ Hà Thị T3 với ông Trương Văn H xác lập ngày 08/11/2013 đảm bảo tính pháp lý và không bị vô hiệu, tài sản tặng cho đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Trương Văn H trên cơ sở hợp đồng nên việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ nêu trên là không có cơ sở. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.
[3.4] Đối với yêu cầu tranh chấp di sản thừa kế phần đất diện tích 619 m² thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh được bà M thay đổi sang đề nghị Toà án công nhận di sản dùng vào việc thờ cúng thấy rằng, cha mẹ các đương sự là cụ Trương Văn L (chết năm 1982) và cụ Hà Thị T3 (chết năm 2015). Lúc còn sống cụ L, cụ T3 chạy giặc về T và được chính quyền địa phương cấp đất cho ở tạm, cụ L không có giấy tờ gì về đất này. Năm 1982, cụ L chết. Năm 1995, cụ T3 đăng ký và được cấp GCNQSDĐ và đã chuyển nhượng một phần cho người khác phía nguyên đơn không ai phản đối. Cụ L không có di chúc, không có giấy tờ gì về đất này theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2005 nên tài sản là di sản thừa kế không thỏa mãn các điều kiện quy định tại mục 1 phần II của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và thời hiệu khởi kiện đối với di sản của cụ L cũng đã hết. Đất này cụ T3 đã tặng cho ông H nên di sản của cụ T3 không còn. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Xét đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà M phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.
9
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị M;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các điều 467, 722, 723, 724, 725, 726 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực; Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp - Bộ T7 về hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất; các điều 157, 165, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M đối với ông Trương Văn H liên quan đến các yêu cầu:
- - Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T chứng thực số 32, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 08/11/2013 đối với phần diện tích 24.890 m², thuộc các thửa 19, 54, tờ bản đồ 28, 20B (thửa 01, 31, 69 tờ bản đồ số 20 cũ) vô hiệu.
- - Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B0 036894, số vào sổ cấp GCN CH 01172, thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28, diện tích 619 m² do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Trương Văn H ngày 02/12/2013;
- - Yêu cầu tranh chấp di sản thừa kế phần đất diện tích 619 m² thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh được thay đổi bổ sung đề nghị Toà án công nhận là di sản dùng vào việc thờ cúng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, chi phí định giá tài sản và chi phí thẩm định giá tài sản: bà Trương Thị M phải chịu 24.500.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn) đồng; ghi nhận bà M đã nộp thanh toán xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trương Thị M phải 900.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp 900.000 (chín trăm nghìn) đồng theo các Biên lai thu số 0004345; 0004346 và 0004347 ngày 29
10
tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; ghi nhận bà M đã nộp xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trương Thị M phải 300.000 đồng đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0005061 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; ghi nhận bà M đã nộp xong.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 366/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế
- Số bản án: 366/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế tài sản giữa bà M với ông H
