|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H Bản án số: 366/2020/DS-ST Ngày: 22/9/2020 V/v: “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T-THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Nhung
- Bà Trần Quang Cảnh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân quận T, thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 9/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 456/2020/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 565/2020/QDST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Trụ sở: Lầu 8, 266-268 đường N, Phường 8, Quận 3, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần số 0301103908 đăng ký lần đầu ngày 13/01/1992.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Nguyễn Khoa N – Phó Giám đốc Trung tâm thẻ (Giấy uỷ quyền số 3892/2018/GUQ-PL ngày 03/12/2018)
Người được uỷ quyền lại: Ông Trần Đức T – Nhân viên (Giấy uỷ quyền số 1374/2019/UQ-TTT ngày 11/8/2019). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Thanh L, sinh năm 1974
Hộ khẩu thường trú: 118/42/15 đường H, phường H, quận T, Thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) và các lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Năm 2010, theo yêu cầu của ông Phạm Thanh L, Ngân hàng cấp cho ông L thẻ tín dụng theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức tín dụng là 17.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.15%/tháng.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 143.111.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 150.796.630 đồng (bao gồm các khoản phí, nợ gốc và nợ lãi). Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/10/2018, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tại thời điểm này là 18.918.794 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại), lãi quá hạn: 7.581.492 đồng. Tổng cộng ông L phải trả số tiền 26.500.286 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản đề nghị ông L thanh toán số tiền trên nhưng ông L cố tình trốn tránh, không thanh toán. Vì vậy, ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải thanh toán số tiền 26.500.286 đồng, trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 22/9/2020, ngân hàng có yêu cầu tính lãi bổ sung đến ngày 24/8/2020 tổng cộng là 26.500.286 (Hai mươi sáu triệu, năm trăm ngàn, hai trăm tám sáu) đồng; trong đó, nợ gốc 18.918.794 đồng, lãi quá hạn 7.581.492 đồng. Ngoài ra, ngân hàng còn yêu cầu ông L phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 25/8/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Phạm Thanh L trả khoản nợ vay theo hợp đồng đã ký kết với ngân hàng. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh của Công an phường H, quận T, TP. H thì ông Phạm Thanh L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường H, quận T. Hiện đương sự không có sinh sống tại địa chỉ trên và không rõ địa chỉ nơi ở mới. Như vậy, nguyên đơn đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn trong đơn khởi kiện theo địa chỉ do bị đơn cung cấp khi giao kết hợp đồng, việc bị đơn thay đổi nơi cư trú mà không báo cho nguyên đơn biết địa chỉ nơi cư trú mới, được coi là cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định địa chỉ của bị đơn tại quận T. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
1. Buộc ông Phạm Thanh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ của thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 20/4/2010 tính đến ngày 24/8/2020 số tiền là 26.500.286 (Hai mươi sáu triệu, năm trăm nghìn, hai trăm tám mươi sáu) đồng; Trong đó, nợ gốc là 18.918.794 (Mười tám triệu, chín trăm mười tám nghìn, bảy trăm chín mươi bốn) đồng, tiền lãi quá hạn là 7.581.492 (Bảy triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, bốn trăm chín mươi hai) đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 25/8/2020 ông Phạm Thanh L còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.325.014 (Một triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, không trăm mười bốn) đồng.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP. H; - VKSND Q. T; - Chi cục THADS Q.T; - Lưu VP, hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hòa |
Bản án số 366/2020/DS-ST ngày 22/09/2020 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 366/2020/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/09/2020
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
