TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 365/2023/HS-ST Ngày : 28 – 11 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Dương Thanh Trung.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà H’Mi Chan Niê_ Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 366/2023/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 376/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đăng K; Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam. Sinh ngày 29 tháng 01 năm 1994; Tại Đắk Lắk. Nơi đăng ký HKTT: 233/30/2 X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở trước khi bị bắt: 4 D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Tự do; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông Phạm Vi N, sinh năm 1960. Địa chỉ: 2 X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Con bà Nguyễn Thị Tuyết N1 (chết). Bị cáo chưa có vợ con.
Bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị T – sinh năm: 1960 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. - Bà Huỳnh Thị Đ – Sinh năm: 1969 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. - Bà Hoàng Thị Thanh T1 – Sinh năm: 1995 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. - Ông Trần Công P – Sinh năm: 1996 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số E N, Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đăng K là đối tượng nghiện ma túy đá (M). Do không có việc làm ổn định, để có tiền chi tiêu nên K đã nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm lời. Qua mối quan hệ xã hội, K biết nam thanh niên tên B (không rõ lai lịch) ở khu vực đường P, phường T, thành phố B là người bán ma túy đá. Sáng ngày 07/6/2023, K đón xe mô tô Grap (không rõ tài xế, biển số xe) đến gặp B mua 04 gói ma túy đá với số tiền 800.000đ rồi mang về phòng trọ địa chỉ số D D, phường T, thành phố B lấy một ít ra sử dụng và phân ma túy thành 06 gói nhỏ cất giấu để bán. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, một người nữ giới tên N2 (không rõ lai lịch) liên lạc từ tài khoản zalo N.T.C.N đến tài khoản Tony của K trên điện thoại di động hiệu Oppo kèm sim 0914.959.174 hỏi mua 01 gói ma túy với giá 500.000₫ thì K đồng ý rồi đón xe thồ của một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến giao ma túy cho N2 tại khu vực đường P, phường T, thành phố B. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, tiếp tục có một người nữ giới tên T2 (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0834.103.xxx gọi đến số điện thoại 0914.959.xxx gắn trên chiếc điện thoại hiệu Oppo hỏi mua 01 gói ma túy với giá 300.000đ thì được Khoa hẹn đến khu vực đầu hẻm D D, phường T, thành phố B lấy ma túy. Số ma túy còn lại K vẫn cất giấu tại phòng trọ tiếp tục đến bán nếu có ai hỏi mua.
Khoảng 14 giờ 00 ngày 08/6/2023, K mang theo 04 gói nylon chứa ma túy đá một mình đến nhà Trần Công P, sinh năm 1996; HKTT: 5 N, phường T, thành phố B để chơi nhưng không nói P biết. Tại đây, người nữ giới tên N2 tiếp tục liên lạc đến tài khoản zalo của K hỏi mua 01 gói ma túy với giá 500.000đ và hẹn giao ma túy tại khu vực đường Y, phường T, thành phố B. Sau đó, K rủ P cùng đi nhưng không nói P biết đi bán ma túy. P lấy xe mô tô BKS 47B2 – 272.27 đưa K điều khiển chở P ngồi sau cùng đi. Khi cả hai vừa đến trước địa chỉ số E Y, phường T, thành phố B thì bị lực lượng cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước K đang mặc 01 hộp nhựa bên trong có 04 gói nylon đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng đã được niêm phong theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B còn tiến hành khám xét nơi ở của K tại số D D, phường T, thành phố B nhưng không thu giữ tài sản, đồ vật gì.
Tại Kết luận giám định số 721/K1-KTHS ngày 14/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 04 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,4736 gam.
Tại Bản cáo trạng số 360/CT-VKS ngày 02/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố: Bị cáo Phạm Đăng K tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[2] Tại phiên tòa: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Đăng K mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,4536 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói trong gói niêm phong số 721/Kl-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo kèm sim 0914.959.174 của Phạm Đăng K. Truy thu số tiền 800.000đ bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy nhưng đã tiêu xài cá nhân hết.Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 47B2 – 272.27 cho bà Huỳnh Thị Đ.
Bị cáo không bào chữa và tham gia tranh luận gì. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo, nhận thấy: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/6/2023, trước địa chỉ số E Y, phường T, thành phố B. Lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang Phạm Đăng K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước K đang mặc 01 hộp nhựa bên trong có 04 gói nylon đều chứa ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,4736 gam.Ngoài ra, K còn khai nhận khoảng 17 giờ ngày 07/6/2023 tại khu vực đường P, phường T, thành phố B đã bán 01 gói ma túy cho người nữ giới tên N2 (không rõ lai lịch) thu lợi số tiền 500.000đ và 17 giờ 30 phút cùng ngày bán 01 gói ma túy cho người nữ giới tên T2 (không rõ lai lịch) tại khu vực phường T, thành phố B thu lợi số tiền 300.000đ.Như vậy, hành vi của Phạm Đăng K là phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
- Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a)...
- b) Phạm tội 02 lần trở lên; ....”
[3] ] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội, các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự thú; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Trong vụ án này còn có đối tượng mua và bán ma túy cho bị cáo nhưng chưa xác minh được nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Đối với Trần Công P sử dụng xe mô tô biển số 47B2 -272.27 chở K, tuy nhiên, P không biết K nhờ chở đi để thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,4536 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói trong gói niêm phong số 721/Kl-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo kèm sim là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 800.000đ bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy nhưng đã tiêu xài cá nhân hết nên cần truy thu để sung ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 47B2 – 272.27 của bà Huỳnh Thị Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Đ nhận quản lý, sử dụng là phù hợp nên cần chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đăng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Phạm Đăng K 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 08/6/2023.
[3] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Truy thu số tiền 800.000đ của bị cáo Phạm Đăng K để sung ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 0,4536 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói trong gói niêm phong số 721/K1-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo kèm sim 0914.959.174 của Phạm Đăng K.
(Vật chứng hiện đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 47B2 – 272.27 cho bà Huỳnh Thị Đ.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Đăng K phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm .
[5] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải An |
Bản án số 365/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 365/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đăng K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
