|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 365/2024/HS-ST Ngày: 28-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
- Thẩm phán: Ông Hoàng Nhật Tân
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phí Văn Nghi
- Ông Mai Quý Dân
- Bà Bạch Thị Kim Loan
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
LÊ THỊ H, sinh ngày 01/01/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi cư trú:
Tổ D, phường Y, quận H, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Đ và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); có chồng Nguyễn Duy U và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1977, con nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án: Bản án số: 03/HSST ngày 13/02/2004, TAND huyện Hoài Đức, TP Hà Nội xử phạt 36 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Chưa được xóa án do chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án), tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 130/2015/HSST ngày 20/7/2015, TAND quận Hà Đông, TP Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án). Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị H:
Bà Nguyễn Thị Kim M1 - Luật sư Văn phòng L Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội, có mặt.
- Bà Cao Thị N, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội, có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/12/2022, Công an huyện C nhận được đơn tố giác của ông Nguyễn Văn Đ1 và vợ bà Cao Thị N (cùng trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội), tố giác Lê Thị H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 8.676.000.000 đồng thông qua việc mua “Đất dịch vụ” tại khu vực khu A, phường Y, quận H, Hà Nội:
Kết quả điều tra xác định:
Từ năm 2007, ông Nguyễn Văn Đ1 và vợ là bà Cao Thị N (gọi tắt là ông bà Đ1 - Nga) quen biết Lê Thị H. H tự giới thiệu làm nghề kinh doanh, buôn bán và có khả năng mua được Đất dịch vụ trên địa bàn phường Y, quận H, TP Hà Nội. Do có nhu cầu nên khoảng tháng 5/2022, ông bà Đ1 - N nhờ H mua đất giúp, H đồng ý và thống nhất sẽ mua giúp ông bà Đ1 - N (hai) lô đất dịch vụ (mỗi lô có diện tích 50m2 có giá khoảng 1.900.000.000 đồng/1 lô) tại khu A, quận H, TP Hà Nội với giá là 3.856.000.000 đồng (trong đó số tiền 3.800.000.000 đồng là tiền mua 02 lô đất, còn số tiền 56.000.000 đồng là tiền để lo thủ tục).
Thực hiện thỏa thuận, trong ngày 16/5/2022, ông Đ1, bà N đã chuyển tiền 1.460.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của H (gồm: 280.000.000 đồng chuyển vào tài khoản số 2200205461373 mở tại Ngân hàng N1 và 1.180.000.000 đồng chuyển vào tài khoản số 19030726926015 mở tại Ngân hàng TMCP K nội dung “TRA NO TIEN MUA DAT"); và giao 2.396.000.000 đồng tiền mặt cho H. Sau đó H viết Giấy biên nhận đề ngày 16/5/2022 xác nhận đã nhận số tiền 3.856.000.000 đồng thỏa thuận nội dung ghi “H vay tiền ông Đ1, thời hạn 3 tháng”.
Đến ngày 19/5/2022, do có nhu cầu mua thêm 01 lô đất dịch vụ nên ông Đ1 tiếp tục nhờ H mua giúp và H thỏa thuận số tiền 1.000.000.000 đồng. Ông bà Đ1 - N đồng ý nên đã giao số tiền 1.000.000.000 đồng cho H và H viết Giấy biên nhận đề ngày 19/5/2022 nội dung “vay số tiền 1.000.000.000 đồng của ông Đ1 thời hạn 3 tháng”.
Sau đó, để ông bà Đ1 - N đưa tiền, H tiếp tục đưa ra các thông tin về việc có các lô đất dịch vụ bán hoặc đưa thêm tiền để được nhận đất sớm hơn, tin tưởng vào thông tin của H, ông bà Đ1 - N đã giao thêm 10 lần tiền cho H, cụ thể:
- - Ngày 06/6/2022, H gọi cho ông bà Đ1 - Nga và thông báo đang có người ở Hải Phòng cần tiền muốn bán rẻ lô đất dịch vụ (có diện tích 42m2) tại khu A, phường Y, quận H, TP Hà Nội với giá 1.000.000.000 đồng. Ông bà Đ1 - N chỉ cần đưa trước cho H số tiền 600.000.000 đồng, còn lại H sẽ cho vay số tiền 400.000.000 đồng để mua. Ông bà Đ1 - N đồng ý nên đã giao số tiền 600.000.000 đồng cho H, sau khi nhật tiền H viết Giấy biên nhận xác nhận vay số tiền 600.000.000 đồng trong thời hạn 3 tháng.
- - Ngày 14/6/2022, H tiếp tục đưa ra lý do tại phường Y, quận H, TP Hà Nội không còn lô đất dịch vụ nào có diện tích 42m2 mà phải mua thêm diện tích khoảng 10m2 nữa với giá là 250.000.000 đồng để đủ diện tích trên 50m2, nên ông bà Đ1 - N tiếp tục đưa cho H số tiền 250.000.000 đồng và H viết xác nhận vào “Giấy biên nhận đã viết ngày 06/6/2022”.
- - Ngày 15/6/2022, theo yêu cầu của H, ông Đ1 tiếp tục đưa cho H 500.000.000 đồng để lo gắp phiếu các lô đất mà ông bà Đ1 - N đã nhờ H mua ở vị trí đẹp. Sau khi nhận tiền H2 viết xác nhận vào “Giấy biên nhận đã viết ngày 06/6/2022”.
- - Ngày 16/6/2022, ông Đ1 đưa thêm cho H số tiền 250.000.000 đồng vì H yêu cầu để lo được gắp phiếu sớm nhất các lô đất mà ông bà Đ1 - Nga đã nhờ H mua. Hiện tiếp tục viết xác nhận vào “Giấy biên nhận đã viết ngày 06/6/2022".
- - Ngày 17/6/2022, H gọi cho ông Đ1 nói có lô đất dịch vụ giá rẻ và đề nghị ông Đ1 góp số tiền 300.000.000 đồng chung mua 01 lô đất khi nào bán được chia đôi tiền lãi. H nói sẽ nhờ con trai ông bà Đ1 - N là anh Nguyễn Văn T (Sinh năm: 1980; Nơi thường trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội) đứng tên gắp phiếu lô đất này. Ông bà Đ1 - N đồng ý nên đã đưa số tiền 300.000.000 đồng cho H, sau khi nhận tiền H viết Giấy biên nhận đề ngày 17/6/2022 xác nhận đã nhận số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) sau đó giao cho ông bà Đ1 - N giữ.
- - Ngày 20/6/2022, H gọi cho ông Đ1 nói đang có người ở Thái Bình đang cần bán lô đất dịch vụ ở phường Y và đề nghị ông Đ1 góp số tiền 400.000.000 đồng để mua. H nói sẽ nhờ con gái ông Đ1 là chị Nguyễn Thị H1 (Sinh năm: 1988; Nơi thường trú: Thôn A, xã T, huyện C, TP Hà Nội) đứng tên gắp phiếu. Ông bà Đ1 - N đồng ý nên đã giao cho H số tiền 400.000.000 đồng, H tiếp tục viết Giấy biên nhận đề ngày 20/6/2022 xác nhận đã nhận số tiền 400.000.000 đồng.
- - Ngày 21/6/2022, H yêu cầu ông Đ1 vay thêm số tiền 800.000.000 đồng để lấy cả lô đất dịch vụ mà ông bà Đ1 - N đã mua chung với H ngày 20/6/2022 nêu trên. Vì ông Đ1 bảo chỉ có 200.000.000 đồng nên H đồng ý nhận số tiền nêu trên và viết tiếp vào “Giấy biên nhận ngày 17/6/2022”.
- - Ngày 27/6/2022, H tiếp tục gọi cho ông Đ1 nói 02 lô đất mà ông bà Đ1 - Nga mua nằm trong 14 lô đất dịch vụ khu A, B phường Y phải đóng thêm mỗi lô 100.000.000 đồng để buổi chiều được viết phiếu gắp ô thửa đất. Ông bà Đ1 - N đồng ý nên giao số tiền 200.000.000 đồng và H tiếp tục xác nhận vào “Giấy biên nhận đề ngày 16/5/2022”.
- - Ngày 28/6/2022, ông Đ1 đưa thêm số tiền 200.000.000 đồng để góp thêm mua đất theo yêu cầu của H. Sau khi nhận tiền H tiếp tục xác nhận vào “Giấy biên nhận đã viết ngày 17/6/2022”.
- - Ngày 30/6/2022, H gọi cho ông Đ1 nói các lô đất dịch vụ mà ông bà Đ1 - N đã mua cần phải đóng tiền cơ sở hạ tầng với số tiền 80.000.000 đồng/01 lô. Ông bà Đ1 N mua 04 lô đất tương đương với số tiền 320.000.000 đồng. Ông bà Đ1 - N đã đưa cho H số tiền 320.000.000 đồng và H tiếp tục xác nhận vào “Giấy biên nhận đã viết ngày 20/6/2022”.
- - Ngày 01/7/2022, ông bà Đ1 N tiếp tục đưa cho H số tiền 600.000.000 đồng để được gắp phiếu trước 04 lô đất dịch vụ như yêu cầu của H. Sau khi nhận tiền H tiếp tục xác nhận vào “Giấy biên nhận ngày 20/6/2022".
Tổng số tiền ông bà Đ1 - N đã đưa cho H là 8.676.000.000 đồng để mua đất dịch vụ khu A, B phường Y, quận H, TP Hà Nội. Trong tổng số tiền ông bà Đ1 - N đưa cho H nêu trên có số tiền anh Nguyễn Văn T góp là 700.000.000 đồng và số tiền chị Nguyễn Thị H1 góp là 400.000.000 đồng.
Để ông bà Đ1 - Nga tin tưởng, H đưa ông bà Đ1 - N đến khu vực đất phía sau giáp với Bến xe Y, phường Y, quận H, TP Hà Nội và chỉ các khu đất trống đồng thời nói đây chính là các lô đất mà ông bà Đ1 - N đã mua đang được Ủy ban nhân dân (UBND) phường Y quản lý. Cụ thể: Vị trí lô đất số 1 là lô đất phía sau giáp bến xe Y (lô góc); Vị trí lô đất số 2 là lô đất phía Nam giáp với siêu thị V, phía Bắc giáp đường phân lô khu A, phía Tây giáp đường giao thông đi vào doanh trại Quân đội; Vị trí lô đất số 3 là lô đất phía Nam giáp với mặt đường quốc lộ 6, phía Tây giáp bến xe Y, phía Đông giáp với đường giao thông đi vào doanh trại Quân đội.
Sau đó, H đều hứa hẹn và cam kết trong tháng 7/2022 ông bà Đ1 - N sẽ được gắp phiếu các lô đất dịch vụ nêu trên nhưng sau đó ông bà Đ1 - Nga vẫn chưa được gắp phiếu. Ông bà Đ1 - N nhiều lần liên lạc thì được H tiếp tục hứa hẹn nhưng đều không có kết quả còn H không liên lạc với ông bà Đ1 - Nga nữa.
Xác minh tại UBND phường Y, quận H, TP Hà Nội: Thông tin về vị trí các lô đất ông bà Đ1 - N được Lê Thị H chỉ và cho biết là những lô đất H mua hộ ông bà Đ1 - Nga như sau:
- - Vị trí số 1 là lô đất phía sau giáp bến xe Y (lô góc): ký hiệu CC2 thuộc khu B đất dịch vụ phường Y, quận H, TP Hà Nội là đất công chưa sử dụng do UBND phường Y quản lý, quy hoạch đất công cộng.
- - Vị trí số 2 là lô đất phía Nam giáp với siêu thị V, phía Bắc giáp đường phân lô khu A, phía Tây giáp đường giao thông đi vào doanh trại Quân đội được ký hiệu NO14 - LK502, LK551 thuộc đất dịch vụ khu A, tổ A phường Y, quận H, TP Hà Nội là đất công do UBND phường Y quản lý.
- - Vị trí số 3 là lô đất phía Nam giáp với mặt đường Quốc lộ 6, phía Tây giáp bến xe Y, phí Đông giáp với đường giao thông đi vào doanh trại Quân đội là đất nông nghiệp thuộc tổ A phường Y, quận H, TP Hà Nội giao theo Nghị định 64 của Chính phủ giao cho các hộ, gia đình, cá nhân trên địa bàn phường Y. Hiện trạng đã đổ đất san nền để mặt bằng trống không có cây cối hoa màu trên đất. Tại vị trí lô đất này không có thửa đất nào của hộ gia đình Lê Thị H.
* Hiện hộ gia đình ông Nguyễn Duy U (chồng Lê Thị H) được giao sử dụng 1.266 m2 đất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ- CP tại phường Y và 50m2 đất dịch vụ tại thửa đất NO02-LK115 tại khu A - Phường Y - quận H - Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB781923.
Ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N đã giao nộp cho Cơ quan điều tra:
- - 05 (năm) bản gốc tài liệu (có chữ ký, chữ viết của Lê Thị H) thể hiện việc Lê Thị H xác nhận đã nhận tổng số tiền 8.676.000.000 đồng (Tám tỷ sáu trăm bảy mươi sáu triệu đồng) của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N.
- - 01 (một) USB do bà Cao Thị N cung cấp là các tập tin âm thanh (có tiếng nói của Lê Thị H) liên quan đến nội dung vụ án.
Kết quả trưng cầu giám định:
- - Bản Kết luận giám định số 1683/KL-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng K1 - Công an T1 kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Thị H trên các 05 giấy biên nhận là do Nguyễn Thị H3 ký và viết ra.
- - Bản Kết luận giám định số 1487/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của V1 - Bộ C đối với 56 tập âm thanh chứa nội dung ghi âm cuộc điện thoại giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và Lê Thị H trao đổi về việc mua đất dịch vụ, kết luận:
- + Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tập tin âm thanh mẫu cần giám định;
- + Không đủ cơ sở để khẳng định có tiếng nói của bà Lê Thị H trong các tập tin âm thanh mẫu cần giám định: A23, A25, A29, A31, A43, A49 do thời lượng của các tập tin âm thanh này quá ngắn, không đủ điều kiện giám định;
- + Tiếng nói của người phụ nữ xưng “tôi” trong tập tin âm thanh mẫu cần giám định Al và tiếng nói của bà Lê Thị H trong mẫu so sánh không phải cùng một người. Tiếng nói của người phụ nữ còn lại tham gia hội thoại trong tập tin âm thanh mẫu cần giám định Al có thời lượng quá ngắn, không đủ điều kiện giám định;
- + Tiếng nói của người phụ nữ (được ký hiệu là “Hiền” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cầm giám định) trong các tập tin âm thanh mẫu cần giám định: Từ A2-A24, từ A26 - A42, từ A44 - A56 là tiếng nói của bà Lê Thị H.
Người bị hại ông Nguyễn Văn Đ1, bà Cao Thị N, Anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H1 khai nội dung như trên. Các ông, bà Đ1 - N yêu cầu H phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt và đề nghi xử lý H theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra Lê Thị H khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và khai sau khi nhận tiền của ông bà Đ1 - Nga, H không thực hiện theo thỏa thuận mà chiếm đoạt, sử dụng vào việc trả nợ, chi tiêu cá nhân hết, do H nợ nhiều người nên không nhớ đã sử dụng tiền để tra cho những ai. Đến nay, H chưa trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N số tiền 7.576.000.000 đồng, của anh Nguyễn Văn T 700.000.000 đồng, của chị Nguyễn Thị H1 400.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKS-P3 ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã quy kết, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội do tuổi đã cao, hiện sức khỏe yếu, mắc nhiều bệnh tật.
Bị hại đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật và buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 8.676.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng, kết luận giám định cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với bị cáo Lê Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị Hiền t 17 đến 18 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị H phải bồi thường cho bị hại toàn bộ khoản tiền đã chiếm đoạt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thị H trình bày luận cứ bào chữa không có ý kiến về tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố. Luật sư cho rằng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn; nguyên nhân do bị cáo làm ăn kinh doanh song đam mê cờ bạc dẫn đến nợ lần; bị cáo tuổi đã cao, sức yếu, bệnh tật nhiều; bị cáo có chồng tham gia trong quân đội song không xin được xác nhận. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức Viện kiểm sát đề nghị.
Trong phần tranh tụng Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị hại giữ nguyên quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng, các bản kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Mặc dù Lê Thị H không được giao đất và không có khả năng mua đất dịch vụ trên địa bàn phường Y, quận H, TP Hà Nội nhưng trong khoảng thời gian từ 16/5/2022 đến ngày 01/7/2022, Lê Thị H vẫn đưa ra thông tin gian dối với vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N là có khả năng mua giúp ông bà Đ1, N đất dịch vụ trên địa bàn phường Y, quận H, TP Hà Nội. Ông bà Đ1 - Nga tin tưởng đã giao cho H tổng số tiền 8.676.000.000 đồng để mua 6 lô đất dịch vụ. Sau khi nhận tiền H đã chiếm đoạt và sử dụng vào mục đích cá nhân, không trả lại tiền cho các bị hại. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hành vi chiếm đoạt tổng số tiền 8.676.000.000 đồng của bị cáo Lê Thị H thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên”. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình là hoàn toàn có căn cứ, đúng các quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Do vậy đối với bị cáo cần phải đưa ra xét xử nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Tăng nặng: Nhân thân bị cáo có 01 tiền án tại bản án số: 03/HSST ngày 13/02/2004, TAND huyện Hoài Đức, TP Hà Nội xử phạt 36 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án do chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”; bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là các tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cũng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị H đã chiếm đoạt tổng số tiền 8.676.000.000 đồng của bị hại là ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N đến nay chưa khắc phục, bồi thường nên cần buộc bị cáo Lê Thị H phải bồi thường trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N toàn bộ khoản tiền đã chiếm đoạt.
Đối với số tiền 700.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T và 400.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H1 đưa cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N bị bị cáo Lê Thị H chiếm đoạt thì đây là giao dịch dân sự nên giành quyền khởi khiện cho anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H1 đối với ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N trong các vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị H 17 (Mười bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lê Thị H phải bồi thường trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Cao Thị N số tiền 8.676.000.000 đồng (Tám tỷ sáu trăm bẩy mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo Lê Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 116.676.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
- - Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |
Bản án số 365/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 365/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
