TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 365/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Lực.
- Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố D, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 364/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 370/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh K, sinh năm 2001 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Minh V, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/3/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Bà Trần Thị N, sinh năm 1959; địa chỉ: Số I, đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Minh K1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số I, đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Lý Ngọc T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Bùi Thị N1, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị Hồng V1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Minh V, sinh năm 1972; thường trú: Ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Bà Mai Ngọc Trà M, sinh năm 1994. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh K làm công nhân và sinh sống tại số H đường số C, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do thiếu tiền tiêu xài nên K đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các tiệm vàng trong khoảng thời gian tháng 3 năm 2024, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 19/3/2024, Nguyễn Minh K điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88, đến uống nước tại quán “Cà phê P” ở gần Ngã tư cầu vượt L thuộc phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 69L1-289.88 đi tìm tiệm vàng vắng người để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, K đi đến đường L hướng về “chợ N3” thuộc phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, khi đi khoảng 50 mét K thấy bên trái đường L có “tiệm V2" ở số I đường L, phường H, thành phố T, trong tiệm có bà Trần Thị N đang đứng bán tại quầy. K đi qua đi lại trước tiệm V3 04 vòng rồi dừng xe trước cửa tiệm, cách khoảng 07 đến 08 mét. K đi vào trong tiệm vàng hỏi mua lắc vàng, bà N hỏi muốn mua lắc khoảng bao nhiêu, K nói mua lắc khoảng hơn hai chỉ. Bà N lấy ra một cái lắc vàng 18K và đeo vào tay phải của K để thử. Sau khi đeo vào tay, K giả vờ nói để ra xe lấy tiền trả, khi đi ra nơi dựng xe K mở cốp xe rồi đóng lại. Sau đó, K ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe tẩu thoát về hướng ngã tư T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, N truy hô “M1, M1, M1” (M1 là tên người đứng quầy bán cùng với bà N) nhưng không đuổi kịp. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, K đến “tiệm V4” tại số A đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, do bà Nguyễn Thị Hồng V1 làm chủ, bán được số tiền 8.800.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, Nguyễn Minh K điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88, từ nhà tại số H đường số C, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, đi đến đoạn đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương tìm tiệm vàng để chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi đang đi trên đường D, K thấy “tiệm V5" ở số F, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do ông Lý Ngọc T1 làm chủ, không có bảo vệ trông coi, tiệm không có khách, ngoài đường vắng người qua lại. Lúc này, trong tiệm chỉ có bà Bùi Thị N1 là vợ ông T1, đang đứng bán ở trong tiệm. K đi qua đi lại phía trước tiệm vàng nhiều lần. Sau đó, K dừng xe phía trước cửa tiệm, đầu xe hướng vào trong, đuôi xe hướng ra đường D, cách cửa tiệm vàng khoảng 05 mét. K để sẵn chìa khóa trên xe và đi vào đứng tiếp giáp với quầy hàng (phía bên ngoài), bà N1 đứng bên trong hỏi K mua gì. K giả vờ hỏi giá vàng ngày hôm nay bao nhiêu, bà N1 hỏi K muốn mua vàng loại nào, K trả lời là muốn mua lắc vàng đeo tay, bà N1 lấy 02 cái lắc tay bằng vàng và đeo vào tay phải cho K thử. Nhưng K giả vờ nói không ưng ý nên trả lại. Sau đó, bà N1 tiếp tục lấy lắc vàng thứ ba ra đeo vào tay K thử và K hỏi giá lắc tay này bao nhiêu tiền, bà N1 lấy máy tính bấm và nói giá là 14.499.000 đồng. Sau khi bà N1 báo giá xong, K giả vờ hỏi “Ở đây chuyển khoản được không cô?”, bà N1 nói được nên K giả vờ nói “Để con ra xe lấy điện thoại vào chuyển khoản”. Rồi K đi ra ngoài đến chiếc mô tô hai bánh, trên tay vẫn còn đang đeo lắc vàng. Bà N2 đi theo K ra ngoài, khi bị cáo ngồi lên xe thì bà N2 dùng tay giữ đuôi xe lại và hô lên “Cướp... Cướp”, tuy nhiên bị cáo vẫn tiếp tục nổ máy chạy đi thì bị mất thăng bằng và bị ngã. Lúc này có nhiều người đi đến cùng bà N2 bắt giữ K và báo Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xử lý.
Theo Kết luận định giá tài sản số 93/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của thành phố D, tỉnh Bình Dương, kết luận: 01 (một) lắc tay bằng kim loại vàng 14K, trọng lượng 3.436 chỉ, trị giá 14.876.505 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 120-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 (một) lắc vàng 18K, trọng lượng 2.529 chỉ, trị giá 12.973.770 đồng.
Ngày 24/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh K về tội “Cướp giật tài sản”.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định nhập vụ án hình sự “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 19/3/2024, tại “tiệm V2" số I đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, với vụ án hình sự “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 25/3/2024, tại “tiệm V5" số F, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Đối với bà Nguyễn Thị Hồng V1, là chủ “tiệm V4” tại số A đường L, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, đã mua 01 (một) lắc vàng 18K, trọng lượng 2.529 chỉ, mà K đã chiếm đoạt của “tiệm V2”, do bà V1 không biết tài sản trên do K phạm tội mà có, nên không xử lý.
Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về các kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự.
* Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88, số khung RLCUG1010RY3962036, số máy G3D4E1167248;
- + 01 (một) lắc tay bằng kim loại vàng 14K, trọng lượng 3.436 chỉ;
- + 01 (một) USB nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 16GB ghi lại hình ảnh camera vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 25/3/2024, tại “tiệm V5" số F, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương;
- + 01 (một) USB màu xanh, dung lượng 4GB ghi lại hình ảnh camera vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 19/3/2024, tại “tiệm V2" số I đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88, số khung RLCUG1010RY3962036, số máy G3D4E1167248, là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Minh V, cha ruột của K. Ông V không biết K sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả tài sản trên cho ông V;
- + Đối với 01 (một) lắc tay kim loại bằng vàng 14K, trọng lượng 3.436 chỉ, là tài sản của bà Bùi Thị N1 và chồng Lý Ngọc T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả lại bà N1, ông T1.
- + Đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 16GB ghi lại hình ảnh camera vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 25/03/2024, tại “tiệm V5" số F, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trưng cầu trích xuất hình ảnh camera, nên lưu hồ sơ vụ án.
- + Đối với 01 (một) USB màu xanh, dung lượng 4GB ghi lại hình ảnh camera vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 19/03/2024, tại “tiệm V2" số I đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã trưng cầu trích xuất hình ảnh camera, nên lưu hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
- + Bà Bùi Thị N1 và ông Lý Ngọc T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác, nên không đề nghị xem xét;
- + Đối với tài sản bị chiếm đoạt của bà Trần Thị N và ông Nguyễn Minh K1 là 01 (một) lắc vàng 18K, trọng lượng 2.529 chỉ, trị giá 12.973.770 đồng, không thu hồi được. Bị cáo Nguyễn Minh K đã tác động cha là ông Nguyễn Minh V bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bà N, ông K1 đồng ý nhận số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm, nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
- + Đối với số tiền 10.000.000 đồng, ông Nguyễn Minh V bồi thường cho bị hại thay bị cáo Nguyễn Minh K, tại phiên tòa ông V không yêu cầu bị cáo K phải trả lại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Bản Cáo trạng số 352/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh K về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị hại ông Nguyễn Minh K1, ông Lý Ngọc T1 và bà Bùi Thị N1 không yêu cầu gì. Ông K1, bà N1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Các bị hại bà Bùi Thị N1, ông Lý Ngọc T1, ông Nguyễn Minh K1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Trần Thị N vắng mặt, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự các bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận giải quyết xong, các bị hại không còn yêu cầu gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt các bị hại.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 19/3/2024, Nguyễn Minh K điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88, đến “tiệm V2” số I đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, do bà Trần Thị N và ông Nguyễn Minh K1 làm chủ, giả vờ mua vàng để chiếm đoạt 01 (một) lắc vàng 18K, trọng lượng 2.529 chỉ, trị giá 12.973.770 đồng và nhanh chóng điều khiển xe mô tô để tẩu thoát. Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 25/3/2024, Nguyễn Minh K tiếp tục điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88 đến “tiệm V5” tại số F, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do ông Lý Ngọc T1 và bà Bùi Thị N1 làm chủ, giả vờ mua vàng, bà N1 đưa lắc tay bằng vàng cho bị cáo thử, bị cáo nói với bà N1 ra xe để lấy điện thoại chuyển khoản, tuy nhiên bị cáo không chuyển khoản mà ngồi lên xe nổ máy thì bị bà N1 kéo đuôi xe lại, bị cáo vẫn nổ máy điều khiển xe chạy đi và chiếm đoạt 01 (một) lắc tay kim loại bằng vàng 14K, trọng lượng 3.436 chỉ, trị giá 14.876.505 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh K đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản với tình tiết định khung “dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 352/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi, lười lao động bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại bà N1 và ông T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Trách nhiệm dân sự:
[7.1] Bà Bùi Thị N1 và ông Lý Ngọc T1 đã nhận lại tài sản là 01 (một) lắc tay kim loại bằng vàng 14K, trọng lượng 3.436 chỉ và không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.2] Đối với tài sản bị chiếm đoạt của bà Trần Thị N và ông Nguyễn Minh K1 là 01 (một) lắc vàng 18K, trọng lượng 2.529 chỉ, trị giá 12.973.770 đồng, không thu hồi được. Bị cáo Nguyễn Minh K đã tác động cha là ông Nguyễn Minh V bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bà N, ông K1 đồng ý nhận số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm, nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.3] Đối với số tiền 10.000.000 đồng, ông Nguyễn Minh V bồi thường cho bị hại thay bị cáo Nguyễn Minh K, tại phiên tòa ông V không yêu cầu bị cáo K phải trả lại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về hình phạt:
[8.1] Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do đó đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[8.2] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, Hội đồng xét xử, xét thấy hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không phạt bổ sung.
[9] Xử lý vật chứng:
[9.1] Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter-2NDC, màu xám xanh đen, biển số 69L1-289.88, số khung RLCUG1010RY3962036, số máy G3D4E1167248, là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Minh V, cha ruột của K. Ông V không biết K sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả tài sản trên cho ông V là có căn cứ;
[9.2] Đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 16GB ghi lại hình ảnh camera vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 25/03/2024, tại “tiệm V5" số F, đường D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trưng cầu trích xuất hình ảnh camera, đây là chứng cứ nên lưu hồ sơ vụ án.
[9.3] Đối với 01 (một) USB màu xanh, dung lượng 4GB ghi lại hình ảnh camera vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 19/3/2024, tại “tiệm V2" số I đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã trưng cầu trích xuất hình ảnh camera, đây là chứng cứ nên lưu hồ sơ vụ án.
[10] Đối với bà Nguyễn Thị Hồng V1, là chủ “tiệm V4” tại số A đường L, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, đã mua 01 (một) lắc vàng 18K, trọng lượng 2.529 chỉ do K đã chiếm đoạt của “tiệm V2”, bà V1 không biết tài sản trên do K phạm tội mà có, nên không xử lý.
[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt là phù hợp nên chấp nhận.
[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội Cướp giật tài sản.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2024.
Bị cáo Nguyễn Minh K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 365/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 365/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh K phạm tội Cướp giật tài sản
