Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 365/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Thiều Thị Phi Loan.
  2. Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1316/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 388/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mộng T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ F (nay là Tổ A), khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Mộng T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 01/12/2011. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T có 01 con chung tên là cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/10/2011. Ly hôn, bà yêu cầu Tòa án giao cháu H cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm thời bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Mộng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị N. Cho bà N ly hôn với ông Nguyễn Mộng T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/10/2011 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị N xin ly hôn với ông Nguyễn Mộng T. Ông T có nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ F (nay là Tổ A), khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Tại phiên toà, bà N có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông T đã được triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông T.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 01/12/2011 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Theo trình bày của bà N thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, bà N xin được ly hôn với ông T. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N, ông T. Tại biên bản xác minh ngày 26 tháng 6 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do bà N, ông T không trình báo với địa phương.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn không có ý kiến chứng tỏ ông T bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà N. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà N, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Ông T không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà N xin ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung:

Quá trình chung sống, bà N và ông T có 01 con chung tên là cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/10/2011. Ly hôn, bà N có ý kiến yêu cầu Tòa án giao cháu H cho bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu H đã trên 07 tuổi. Qua tham khảo ý kiến thì cháu H có nguyện vọng được sống chung với bà N được bà N trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định, tôn trọng nguyện vọng của cháu nên chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cháu H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Do bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị N, cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Mộng T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/10/2011 cho bà Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung : Không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai số 0003826 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà (Bà N đã nộp xong).
  6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà;
  • - UBND xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 365/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 365/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Nga ly hôn với Nguyễn Mộng Thư
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger