Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 365/2023/HS-ST

Ngày 16-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Lệ Chi;
  2. Bà Phạm Tú Nhi.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 388/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 500/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Huỳnh Phương T, sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số A T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1981; bị cáo có 02 em ruột, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2023 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Đặng Hồng Anh Q, sinh năm 1993; thường trú: Số C khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986; thường trú: Số A, đường số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 2001; thường trú: Số B khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  4. Anh Lê Văn N, sinh năm 1989; thường trú: Số A đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  5. Anh Trần Tuấn K, sinh năm 1990; thường trú: Số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 09/7/2023, đồng chí Đặng Hồng Anh Q là Cảnh sát khu vực đang trực ban Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì nhận được tin báo có 01 đối tượng cầm mã tấu có dấu hiệu nghi vấn đang đi bộ trên đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đồng chí Q đã báo cáo sự việc cho đồng chí Nguyễn Văn T3 là Phó Trưởng Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cùng lúc, đồng chí T3 đã phân công đồng chí Nguyễn Tiến Q1 (Bảo vệ khu phố P), Lê Văn N (thành viên đội dân phòng phường A) và đồng chí Trần Tuấn K (Cán bộ Công an phường A) xử lý vụ việc trình báo của người dân. Khi đi đồng chí Nguyên mặc đồ đồng phục dân phòng điều khiển xe ô tô bán tải hiệu Ford màu đen biển số 61D-000.13 của Công an phường A, có mở đèn tín hiệu và còi ưu tiên chở đồng chí Quang mặc đồ bảo vệ dân phố, còn đồng chí K mặc đồ thường phục điều khiển xe mô tô chạy phía sau xe bán tải. Sau đó, tổ kiểm tra đi đến đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy Nguyễn Huỳnh Phương T mặc áo khoác đỏ không kéo khóa, áo mặc bên trong màu đen, mặc quần dài màu nâu, đeo ba lô màu xanh đen phía sau đúng với đối tượng người dân trình báo nên tổ tuần tra đi lại gần T, đồng chí K nói “Tôi là Công an phường A” và yêu cầu T dừng lại, bỏ đồ đạc trên người xuống thì T trả lời “Tôi không làm gì, các anh tính bắt tôi hả?” và rút 01 (một) dao dài khoảng 70 cm từ trong balo đeo ở sau lưng ra chỉ về phía tổ tuần tra. Lúc này, đồng chí Quang bước lại gần T thì bị T dùng dao chém đồng chí Q1 trúng vào khuỷu tay trái. Sau khi chém trúng anh Q1 thì T bỏ chạy, anh K nhặt 01 cây gậy gỗ dài khoảng 03 mét rượt đuổi theo T. Khi T chạy đến trước nhà số A, đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, được anh Bùi Văn T2 là người dân sống gần đó, đã cầm một cây sắt từ trong nhà đi ra hỗ trợ giúp tổ tuần tra để đuổi bắt T. Cùng lúc, anh T2 dùng cây sắt đánh T nhưng không trúng thì bị T quay lại dùng dao chém trúng vào khủyu tay phải của anh T2 gây thương tích. Sau đó, con dao của T sử dụng bị rơi xuống đường nên tổ tuần tra liền đến khống chế T đưa về Công an phường A làm việc.

Vật chứng thu giữ, gồm:

  • 01 (một) dao tự chế dài 68cm, cán bằng gỗ được quấn bằng băng keo màu đen, lưỡi dao bằng kim loại.
  • 01 (một) vỏ bao đựng dao tự chế.
  • 01 (một) balo màu xanh đỏ đen.
  • 01 (một) áo khoác màu đỏ.
  • 01 (một) quần kaki màu nâu.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số 513/2023/KLGĐ-TTPY ngày 31/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh B, đối với Bùi Văn T2, như sau:

  1. Các kết quả chính:

    - Vết thương mặt ngoài khuỷu tay phải 8,5 x 0,4 cm sẹo lành.

  2. Kết luận:

    Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn T2 tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).

  3. Kết luận khác:

    Cơ chế hình thành thương tích:

    - Vết thương mặt ngoài khuỷu phải: Bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Tại Cáo trạng số: 387/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Huỳnh Phương T về tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ” theo điểm a khoản 1 Điều 134 và khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T từ 9 tháng đến 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành từ 01 năm 9 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) dao tự chế dài 68cm, cán bằng gỗ được quấn bằng băng keo màu đen, lưỡi dao bằng kim loại là hung khí Nguyễn Huỳnh Phương T sử dụng phạm tội và 01 (một) vỏ bao đựng dao tự chế, 01 (một) balo màu xanh đỏ đen, 01 (một) áo khoác màu đỏ, 01 (một) quần kaki màu nâu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Văn T2 và anh Nguyễn Tiến Q1 không yêu cầu Nguyễn Huỳnh Phương T phải bồi thường chi phí điều trị thương tích, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người chứng kiến; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 09/7/2023 tại đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Tổ tuần tra Công an phường A, thành phố D do đồng chí Nguyễn Văn T3 – Phó Trưởng Công an phường A phân công đi kiểm tra xử lý vụ việc theo trình báo của người dân, khi đến nơi đồng chí K tự giới thiệu là công an phường, yêu cầu T bỏ đồ đạc trên người xuống nhưng T không chấp hành và dùng 01 (một) dao tự chế dài 68cm, cán bằng gỗ được quấn bằng băng keo màu đen, lưỡi dao bằng kim loại để chống trả Tổ tuần tra hậu quả gây thương tích cho anh Nguyễn Tiến Q1 vết thương 3cm, sây sát nhẹ ngoài da không có vết thương hở. Sau đó, T bỏ chạy về trước nhà số A đường L, khu phố B, phường A, thành phố D dùng dao trên chém trúng khuỷu tay trái của bị hại Bùi Văn T2 thương tích là 02% (hai phần trăm) theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 do Bộ Y ban hành về “Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần”.

[3] Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T không chấp hành mệnh lệnh, dùng vũ lực để cản trở người thi hành công vụ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích tỷ lệ 2% đối với anh Bùi Văn T2, là người dân hỗ trợ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 387/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước; X; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chưa có tiền án, tiền sự.

[8] Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, xâm phạm trật quản lý hành chính Nhà nước đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) dao tự chế dài 68cm, cán bằng gỗ được quấn bằng băng keo màu đen, lưỡi dao bằng kim loại là hung khí bị cáo sử dụng phạm tội và 01 (một) vỏ bao đựng dao tự chế, 01 (một) balo màu xanh đỏ đen, 01 (một) áo khoác màu đỏ, 01 (một) quần kaki màu nâu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”.
    • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T 09 (chín) tháng tù.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T 01 (một) năm tù.
    • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao tự chế dài 68cm, cán bằng gỗ được quấn bằng băng keo màu đen, lưỡi dao bằng kim loại; 01 (một) vỏ bao đựng dao tự chế, 01 (một) balo màu xanh đỏ đen, 01 (một) áo khoác màu đỏ, 01 (một) quần kaki màu nâu.
    • (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Nguyễn Huỳnh Phương T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD;
  • - TAND tỉnh BD;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh BD;
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh BD;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: VT, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 365/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 365/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huỳnh Phương T phạm tội Cố ý gây thương tích và Chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger