|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 365/2025/HS-ST Ngày: 06/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Chi – Nguyên giáo viên.
- Ông Võ Văn Lợi.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2025/HSST ngày 21 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Lê Văn N, sinh năm 2004 tại Bạc Liêu; Nơi thường trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không xác định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Lê Văn Đ, sinh năm 1985; Mẹ: Danh Thị T, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2024, có mặt tại phiên tòa.
-
Chu Văn N1, sinh năm 2002 tại Hà Nam; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không xác định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Chu Văn L, sinh năm 1979; Mẹ: Trương Thị N2, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 15 tháng 11 năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Chấp hành xong ngày 29 tháng 01 năm 2023. Bị cáo đã đóng án phí.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2024, có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Nhật H, sinh ngày 02/3/2008 tại Quảng Ngãi; Nơi thường trú: Tổ dân phố L, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Nhật H1, sinh năm 1983; Mẹ: Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện của bị cáo Nguyễn Nhật H: Ông Nguyễn Nhật H1, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ thường trú: Tổ dân phố L, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật H: Luật sư Nguyễn Hồ Z, sinh năm 1976 – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H.
Địa chỉ: D N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị hại:
- Anh Trần Văn L1, sinh năm 2008;
- Chị Đặng Ngọc Kim T2, sinh năm 2008;
Địa chỉ: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Trần Văn L1: Ông Trần Văn B, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ thường trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Địa chỉ: 5 G, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Đặng Ngọc Kim T2: Ông Đặng Văn N3, sinh năm 1985 và bà Lê Thị Kim N4, sinh năm 1986;
Cùng địa chỉ thường trú: 57/16 G, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Chí D, sinh năm 1996;
- Em Lê Hoàng T3, sinh năm 2009;
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Địa chỉ: C T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn T4 và bà Trần Thị Diễm K;
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp, cần tiền để tiêu xài nên Lê Văn N (sinh năm 2004) đã nảy sinh ý định cưỡng đoạt tài sản của người khác với hình thức là N và bạn của N sẽ điều khiển xe đi trên những đoạn đường vắng, vào lúc đêm khuya khi gặp người vi phạm giao thông thì cả nhóm sẽ giả danh Công an hình sự, yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra giấy tờ, yêu cầu người vi phạm đóng phạt trực tiếp, nếu không sẽ giam xe ở trụ sở Công an. Sau khi đã lấy được tiền của bị hại, cả nhóm điều khiển xe tẩu thoát và chia số tiền đã chiếm đoạt để tiêu xài.
Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17 tháng 9 năm 2024, nhóm đối tượng N, Chu Văn N1 (Sinh năm 2002), Nguyễn Nhật H (sinh ngày 02 tháng 3 năm 2008 - 16 tuổi 6 tháng 16 ngày), Lê Hoàng T3 (sinh ngày 11 tháng 11 năm 2009 - 14 tuổi 9 tháng 8 ngày) rủ nhau đi uống nước, trên đường đi thì Nhì nảy sinh ý định giả danh Cơ quan Công an chặn bắt người vi phạm giao thông để hù dọa tống tiền. Nhì rủ rê N1, H, T3 cùng tham gia thì cả ba đồng ý. Lúc này, N điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu đen, biển số 62E1-245.14 chở N1, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 60B8-468.82 chở T3. Đến khu vực phường H thì phát hiện người vi phạm, N yêu cầu người vi phạm dừng xe lại, kiểm tra giấy tờ. Lúc này, N yêu cầu T3, N1 xuống kiểm tra xe xem có thay đổi kết cấu gì không, mục đích là khiến cho người vi phạm thấy nhóm đối tượng giống Cơ quan Công an, T3, N1 đứng quan sát. Nhì yêu cầu người vi phạm đưa bằng lái nhưng không có nên N yêu cầu đóng phạt 1.700.000 đồng nhưng người đi đường không có tiền nên N nhắc nhở và cho đi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18 tháng 9 năm 2024, N đến nhà N1 chơi.
Ngồi chơi được một lúc thì N nói về đi chơi với bạn. Nghe vậy thì N1 muốn đi theo và N đồng ý. Trên đường đi, N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác với hình thức như trên. Nhì dừng xe ở lề đường, gọi điện cho T3, H rủ đi cùng. Nhì hỏi “Đi làm không?” thì T3 và H đồng ý đi cùng, nói hình thức chiếm đoạt như trên thì cả N1, T3, H đều đồng ý. Nhì điều khiển xe mô tô biển số 62E1 - 245.14 chở N1 ngồi sau, hẹn gặp H tại nhà của T3 tại địa chỉ đường H, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương và cả nhóm gặp nhau tại nhà của T3 lúc 22 giờ 00 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 62E1 - 245.14 chở N1, H điều khiển xe mô tô biển số 60B8-468.82 chở T3. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến chân cầu vượt G thuộc phường T, thành phố T, cả nhóm phát hiện anh Trần Văn L1 (sinh năm 2008) điều khiển xe mô tô chở chị Đặng Ngọc Kim T2 (sinh năm 2008) vượt đèn đỏ. Cả nhóm bám theo sau, đến giữa cầu vượt G, cả nhóm ra hiệu yêu cầu xe mô tô anh L1 đang chở chị T2 vào lề đường yêu cầu dừng xe. Nhì bước xuống xe, tự xưng là cảnh sát hình sự phường T, N tiếp tục nói “Đứng đây cản trở giao thông quả, bạn nữ lên xe anh chở, còn N1 qua điều khiển xe kia đi xuống dưới cầu làm việc” với mục đích tìm nơi vắng vẻ để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Cả nhóm của N cùng anh L1, chị T2 đi đến bãi đất trống đường tỉnh lộ 43 phường T, thành phố T. Khi dừng xe, N yêu cầu T3, Nam kiểm tra bên ngoài xe có độ không, N nói với anh L1 “cho anh kiểm tra Giấy tờ xe và căn cước công dân của em”, anh L1 nói xe mới mua, không có giấy tờ đầy đủ thì N yêu cầu đưa ví đề kiểm tra với mục đích kiểm tra có tiền hay không, khi kiểm tra thì N thấy ví không có tiền. Khi T3 và N1 đã kiểm tra xe xong, N trả lại ví cho anh L1 và thông báo “lỗi điều khiển xe không có kính chiếu hậu, phạt 200.000 đồng, nếu bây giờ xe không có giấy tờ, anh sẽ giam xe của em”. Anh L1 nghe vậy thì đồng ý nộp phạt để không bị giam xe nhưng do không có tiền mặt nên đã yêu cầu chuyển khoản, N đồng ý và chị T2 đã chuyển khoản 200.000 đồng vào tài khoản của N, số tài khoản 9374634107 của ngân hàng V, tên chủ tài khoản “LE VAN NHI”. Khi nhận tiền thành công và cả nhóm rời đi, tiếp tục tìm người vi phạm giao thông nhưng không thấy ai nên cả nhóm đến cây rút tiền ATM ngân hàng V trên đường A, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nhì xuống xe và rút 200.000 đồng, chia cho H, T3, N1 mỗi người 50.000 đồng và đi về. Ngoài ra, N và H còn sử dụng thủ đoạn như trên để thực hiện 02 hành vị cưỡng đoạt tài sản của người khác (mỗi lần 200.000 đồng) trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa xác định được bị hại.
Tại Cơ quan điều tra, N, N1, T3, H khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô biển số 60B8 - 468.82 của Nguyễn Nhật H. Xác minh xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 60B8-468.82, kết quả: Xe mô tô trên do anh Nguyễn Chí D đứng tên chủ sở hữu. Hiện anh D đã đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Xe mô tô trên không có ai trình báo về việc mất trộm xe.
- - 01 xe mô tô biển số 62E1 - 245.14 của Lê Văn N. Xác minh xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu đen, biển số 62E1-245.14, kết quả: Xe mô tô trên do chị Lê Thị H2 đứng tên chủ sở hữu, đã bán cho cửa hàng mua bán xe máy Anh P, do chị Phan Thị T5 làm chủ cửa hàng. Đến tháng 09/2024, Lê Văn N mua xe mô tô trên từ cửa hàng Anh P, hiện đã thanh toán hết. Do đó, xe mô tô trên thuộc sở hữu của Lê Văn N.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh số thuê bao 0354640163 của Lê Văn N.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc số thuê bao 0327654852 của Chu Văn N1.
- - 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu đen số thuê bao 0899371454 của Lê Hoàng T3.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu trắng số thuê bao 0357172375 của Nguyễn Nhật H.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Ngọc L2, chị Đặng Ngọc Kim T2 không có yêu cầu gì.
Tại Cáo trạng số: 256/CT-VKSTPTĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lê Văn N, Chu Văn N1 và Nguyễn Nhật H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Văn N1 từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô biển số 60B8 - 468.82, nếu quá thời hạn không có người đến nhận đề nghị tiến hành phát mãi tài sản, sung công quỹ Nhà nước.
- + Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển số 62E1 - 245.14.
- + Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh số thuê bao 0354640163 của Lê Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu trắng số thuê bao 0357172375 của Nguyễn Nhật H; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu đen số thuê bao 0899371454 của Lê Hoàng T3.
- + Hoàn trả cho Chu Văn N1 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc số thuê bao 0327654852.
- - Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật H trình bày: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố về tội danh và tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo H. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức xã hội, pháp luật còn nhiều hạn chế. Hành vi phạm tội của bị cáo không gây ra hậu quả lớn. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt mã lẽ ra bị cáo phải chịu.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét việc bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
-
Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại bãi đất trống đường tỉnh lộ 43 phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Văn N, Chu Văn N1, Nguyễn Nhật H và Lê Hoàng T3 đã có hành vi giả mạo công an, uy hiếp tinh thần anh Trần Văn L1 (sinh năm 2008), chị Đặng Ngọc Kim T2 (sinh năm 2008), chiếm đoạt số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Hành vi của các bị cáo Lê Văn N, Chu Văn N1, Nguyễn Nhật H đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Lê Hoàng T3, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, T3 được 14 tuổi 9 tháng 8 ngày, chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định Khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ về hành vi vi phạm của Lê Hoàng T3 về chính quyền địa phương để xử lý theo thẩm quyền.
-
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo Chu Văn N1 phạm tội khi chưa được xóa án tích, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý, thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lê Văn N có hành vi rủ rê, xúi giục Nguyễn Nhật H và Lê Hoàng T3 (chưa đủ 18 tuổi) cùng thực hiện hành vi phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm o, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Nhật H không có tình tiết tăng nặng.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lê Văn N, Chu Văn N1, Nguyễn Nhật H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất đồng phạm trong đó bị cáo Lê Văn N đóng vai trò là người đề xuất, rủ rê Chu Văn N1 và Nguyễn Nhật H cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó khi lượng hình cần căn cứ Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội của các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an chung. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức, biết được hành vi của mình là vi phạm quy định pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý thỏa đáng, vì vậy phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Đối với bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khi lượng hình cần áp dụng Điều 90; Điều 101 Bộ luật Hình sự để đưa ra mức án phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Ngọc L2, chị Đặng Ngọc Kim T2 không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử ghi nhận.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:
- - 01 xe mô tô biển số 60B8 - 468.82 của Nguyễn Nhật H. Xác minh xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 60B8-468.82, kết quả: Xe mô tô trên do anh Nguyễn Chí D đứng tên chủ sở hữu. Hiện anh D đã đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Xe mô tô trên không có ai trình báo về việc mất trộm xe. Do đó, cần tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu, nếu quá thời hạn không có người đến nhận đề nghị tiến hành phát mãi tài sản, sung công quỹ Nhà nước.
- - 01 xe mô tô biển số 62E1 - 245.14 của Lê Văn N. Xác minh xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu đen, biển số 62E1-245.14, kết quả: Xe mô tô trên do chị Lê Thị H2 đứng tên chủ sở hữu, đã bán cho cửa hàng mua bán xe máy Anh P, do chị Phan Thị T5 làm chủ cửa hàng. Đến tháng 09/2024, Lê Văn N mua xe mô tô trên từ cửa hàng Anh P, hiện đã thanh toán hết. Do đó, xe mô tô trên thuộc sở hữu của Lê Văn N. Xét thấy, bị cáo Lê Văn N sử dụng phương tiện nêu trên vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh số thuê bao 0354640163 của Lê Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu đen số thuê bao 0899371454 của Lê Hoàng T3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu trắng số thuê bao 0357172375 của Nguyễn Nhật H. Xét thấy các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sử dụng làm phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc số thuê bao 0327654852 của Chu Văn N1. Xét thấy bị cáo N1 không sử dụng làm phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần hoàn trả lại cho Chu Văn N1.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện của bị cáo Nguyễn Nhật H, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Căn cứ Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn N, Chu Văn N1, Nguyễn Nhật H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o, khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Chu Văn N1 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 101; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 60B8-468.82. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tiến hành tịch thu, phát mãi tài sản nộp vào ngân sách nhà nước.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển số 62E1 - 245.14.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh số thuê bao 0354640163, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu trắng số thuê bao 0357172375, 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu đen số thuê bao 0899371454.
- - Hoàn trả cho bị cáo Chu Văn N1 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc số thuê bao 0327654852.
(Theo Phiếu nhập kho số: NK25/312C ngày 12/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lê Văn N, Chu Văn N1, Nguyễn Nhật H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Các bị cáo Lê Văn N, Chu Văn N1, Nguyễn Nhật H, người đại diện và người bào chữa của bị cáo Nguyễn Nhật H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu |
Bản án số 365/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 365/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
