Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 365/2025/DS-PT

Ngày: 27 - 6 - 2025

V/v Tranh chấp chia tài sản chung

là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.

  • - Các Thẩm phán:

    Ông Đinh Chí Tâm;

    Bà Phạm Thị Liên Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trang – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2025/TLPT- DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 về Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 327/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Đặng Văn D, sinh năm 1974;

    Địa chỉ: Số nhà B, Quốc lộ H, Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D là: Luật sư Nguyễn Văn H – Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Quốc lộ H, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  • - Bị đơn: Đặng Thị P, sinh năm 1972;

    Địa chỉ: Số nhà B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà P là: Chị Nguyễn Thị Bích P1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/6/2025).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Đặng Văn D1, sinh năm 1947;

      Địa chỉ: Số nhà B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông D1 là: Chị Nguyễn Thị Bích P1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/6/2025).

    2. Đặng Thị L, sinh năm 1978 (Vắng mặt);

      Địa chỉ: Số nhà F, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  • - Người kháng cáo: Ông Đặng Văn D là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Đặng Văn D trình bày:

Vào ngày 27/4/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử tuyên án giao cho ông Đặng Văn D1, bà Đặng Thị P, bà Đặng Thị L và ông cùng được hưởng di sản thừa kế quyền sử dụng đất diện tích là 539,7m², tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Trong đó, đất ở là 100m², đất trồng cây lâu năm là 439,7m². Nguồn gốc đất trước đây thuộc một phần thửa số 18 tờ bản đồ số 41. Các phần còn lại của Bản án người được thừa kế đã được đứng tên quyền sử dụng đất chỉ còn phần tích là 539,7m² nêu trên của ông D1, bà P, bà L và ông thì chưa được cấp giấy CNQSD đất. Khi Bản án được Cơ quan Thi hành án làm việc thì bà P yêu cầu chia ra làm bốn phần để bà P nhận một phần nhưng việc này không chia được nên bà P không đồng ý ký tên để thi hành. Tại biên bản làm việc ngày 31/8/2022 của Cơ quan Thi hành án có ông D1, bà L và ông, thì bà L, ông D1 thống nhất giao phần của mình cho ông đứng tên. Riêng đối với phần của ông D1 thì ông D1 cho ông với điều kiện ông phải ký tên thống nhất phần tài sản là đất của ông ở huyện L ông không được hưởng. Hiện ông chưa ký thủ tục để cho ông D1 thực hiện việc tách thửa cho đất cho các con.

Ngày 11/7/2022 Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đã cưỡng chế giao 539,7m² đất nêu trên cho 4 người. Tuy nhiên, đến nay nhiều lần ông thực hiện thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo như Quyết định thi hành án nhưng bà P không đồng ý.

Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được đứng tên toàn bộ diện tích là 539,7m². Ông sẽ trả lại tiền giá trị đất cho bên bà P theo giá của Hội đồng định giá, đối với đất ở là 700.000đ/m², đất cây lâu năm là 180.000đ/m2. Phần của ông D1 đã cho ông nếu Tòa án xác định của ông D1 thì ông đồng ý trả giá trị đất cho ông D1 giống như phần của bà P để ông được về ở trên đất, do hiện nay ông không có đất để cất nhà ở. Ông không đồng ý nhận giá trị đất 150.000.000 đồng từ bà P lý do ông cần chỗ để ở. Ông không đồng ý trả giá trị đất theo yêu cầu của bà P mỗi phần là 150.000.000 đồng cho bà P và ông D1.

Hiện trên đất ông có trồng 60 cây lộc vừng theo định giá mỗi cây là 180.000 đồng, chuối 08 cây mỗi cây là 40.000 đồng. Tổng cộng là 11.120.000 đồng. Nếu giao đất cho bà P thì bà P phải trả giá trị cây cho ông.

- Bị đơn bà Đặng Thị Phương trình B:

Khi Tòa án tỉnh Đồng Tháp xét xử đến nay bà đều thống nhất đứng tên chung diện tích đã tuyên. Từ ngày có Quyết định thi hành án đến nay bà không nhận bất cứ giấy tờ gì để thể hiện cho việc bà ký tên để được đứng tên phần đất diện tích 539,7m². Ông D cho rằng bà đòi được đứng tên riêng phần của bà tức là diện tích 539,7m² tách ra 4 phần là không đúng. Từ trước đến nay bà cũng không có yêu cầu được đứng tên một mình diện tích đất tranh chấp nêu trên. Đối với yêu cầu của ông D bà không đồng ý, bà thống nhất được đứng tên chung còn nếu Tòa án buộc phải giao đất cho ông D thì ông D phải trả lại phần của bà là 150.000.000 đồng (Mỗi phần là 150.000.000 đồng tương đương với toàn bộ diện tích đất là 600.000.000 đồng). Bà cũng có nhu cầu sử dụng đất và bà đồng ý trả giá trị đất cho ông D và bà L mỗi phần là 150.000.000 đồng để được nhận đất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Đặng Thị L trình bày:

    Thống nhất theo ý kiến của ông Đặng Văn D, phần của bà thì bà sẽ giao luôn cho ông D sử dụng, ông D không phải trả giá trị đất lại cho bà.

  • + Ông Đặng Văn D1 trình bày:

    Trước đây ông có thỏa thuận tại Cơ quan Thi hành án là ông sẽ giao phần của ông cho ông D nhưng sau đó ông D không thực hiện việc thỏa thuận về việc ký tên để ông cho đất các người con còn lại của ông. Vì vậy, ông không đồng ý cho ông D phần của ông. Ông hủy bỏ thỏa thuận trước đây giữa ông với ông D. Phần của ông đồng ý giao lại cho bà P sử dụng và ông cũng không tranh chấp yêu cầu gì trong vụ án.

    Việc ông D cho rằng không có nhà để ở là không đúng, vì hiện nay ông ở một mình, ông D không có chịu về ở chung với ông.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn D.

  2. Công nhận cho bà Đặng Thị P sử dụng diện tích 539,7m² từ mốc M1, M2, M3, M4, về M1 thuộc một phần thửa số 18 tờ bản đồ số 41 nay là 52, tờ bản đồ số 41 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ 2024, ngày 12/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L)

    Bà Đặng Thị P tự nguyện thối lại cho ông Đặng Văn D 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

  3. Buộc ông Đặng Văn D di dời 60 cây lộc vừng ra khỏi diện tích tranh chấp để giao diện tích 539,7m² đất cho bà Đặng Thị P sử dụng.

  4. Buộc bà Đặng Thị P trả giá trị 08 cây chuối đã định giá là 320.000 đồng cho Đặng Văn D.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2024 ông Đặng Văn D làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu của anh D, cho anh D được nhận đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông D, sửa Bản án sơ thẩm.

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào Bản án dân sự phúc thẩm số 147/2022/DS-PT, ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì ông Đặng Văn D1, ông Đặng Văn D, bà Đặng Thị L và bà Đặng Thị P được sử dụng chung đối với diện tích 539,7m², thuộc thửa 52, tờ bản đồ số 41, tại xã H, huyện L.

Nguồn gốc đất tranh chấp là các đương được hưởng thừa kế từ bà Võ Thị N được phân chia theo Bản án nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình thi hành án các đương sự đã được giao đất xong. Do các bên không đồng ý cùng sử dụng chung nên diện tích đất này các đồng thừa kế chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

[2] Ông D cho rằng hiện nay ông không có chỗ để ở phải thuê nhà ở nên cần đất để cất nhà. Vì vậy, ông yêu cầu được sử dụng toàn bộ diện tích 539,7m² nêu trên và đồng ý trả giá trị đất cho bà P và ông D1 theo giá của Hội đồng định giá mỗi phần tương đương là 37.286.000 đồng. Còn bà P cho rằng bà cũng có nhu cầu sử dụng đất. Trường hợp ông D muốn sử dụng toàn bộ diện tích 539,7m² thì ông D phải giá trị đất cho bà P và ông D1 mỗi người là 150.00.000 đồng.

Xét thấy, ông D không đồng ý sử dụng đất chung với những người còn lại, hơn nữa phần diện tích này không đủ điều kiện để tách thửa chia cho các đương sự theo quy định của pháp luật. Do ông D và bà P đều có nhu cầu sử dụng đất. Vì vậy, cần phải xem xét để giao đất cho một trong hai người và người sử dụng đất phải trả giá trị đất các đương sự còn lại.

[3] Xét việc ông D đồng ý trả giá trị đất cho phần của bà P và ông D1 theo giá của Hội đồng định giá mỗi phần là 37.286.000 đồng. Còn bà P đồng ý trả giá trị đất cho phần của ông D và bà L mỗi phần là 150.000.000 đồng.

Tuy nhiên, nếu giao đất cho ông D thì giá đất mà ông D trả cho bà P thấp hơn nhiều so với giá bà P đồng ý trả cho ông D nên không đảm bảo quyền lợi cho bà P và ông D1. Hiện nay phần đất này ông D cũng không có xây dựng nhà trên đất. Do đó, để có lợi cho bên ông D và đảm bảo quyền lợi cho bà P và ông D1, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử giao đất cho bà P được sử dụng và bà P trả giá trị đất cho ông D 300.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại tòa án cấp phúc thẩm ông D cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[4] Xét ý kiến đề nghị của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D là chưa phù hợp như đã nhận định ở trên nên không chấp nhận.

[5] Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ nên chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Để thuận tiện cho việc thi hành án Hội đồng xét xử điều chỉnh lại cách tuyên án.

Do giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên ông D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 91, Điều 147, Điều 148, Điều 156, Điều 165, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn D.

  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn D.

  4. Công nhận cho bà Đặng Thị P được quyền sử dụng diện tích 539,7m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M1 thuộc một phần thửa số 18 tờ bản đồ số 41 (Nay là thửa 52, tờ bản đồ số 41).

    Việc xác định mục đích sử dụng đất do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.

    (Kèm theo sơ đồ số 22/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ 2024, ngày 30/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).

    Bà Đặng Thị P được quyền đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với diện tích 539,7m², thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 41 (Nay là thửa 52 tờ bản đồ số 41), tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị P đồng ý trả lại giá trị đất cho ông Đặng Văn D là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

  6. Buộc bà Đặng Thị P trả giá trị 08 cây chuối cho ông Đặng Văn D là 320.000 đồng (Ba trăm hai mươi ngàn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  7. Buộc ông Đặng Văn D phải di dời 60 cây lộc vừng ra khỏi diện tích đất tranh chấp để giao diện tích 539,7m² đất nêu trên cho bà Đặng Thị P sử dụng.

  8. Về án phí:

    • + Ông Đặng Văn D phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào số tiền 1.215.000 theo Biên lai số 0001521 ngày 07/3/2024, 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0014045 ngày 02/10/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, ông D còn phải nộp tiếp 13.785.000 đồng.

    • + Bà Đặng Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.000.000 đồng.

9. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

  • + Ông Đặng Văn D phải chịu 2.136.000 đồng (Đã nộp xong).

  • + Bà Đặng Thị P phải chịu 2.136.000 đồng để trả lại ông Đặng Văn D, do ông D đã tạm ứng trước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi Nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND huyện Lai Vung;
  • - CCTHADS huyện Lai Vung;
  • - Phòng TTKT-THA TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT (N).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Sỹ Danh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 365/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 365/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn D- Đặng Thị P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger