|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 365/2024/HS-PT Ngày: 08 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên
Ông Trần Nam Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Lô Văn A; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lô Văn A, sinh năm 1990 tại Nghệ An.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Hồng M, sinh năm 1960 và bà Trương Thị C, sinh năm 1964; Có vợ là Hà Thị V, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dung biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh số 1409 ngày 30/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố B. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh số 1269/LCĐKNCT ngày 13/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- Ngoài ra, vụ án còn có bị hại, bị đơn dân sự nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không có triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Lô Văn A có giấy phép lái xe hạng C là nhân viên lái xe của Công ty cổ phần V1(gọi tắt là Công ty V1) theo hợp đồng lao động số 15/HĐLĐ-TÐ/2022 ngày 14/02/2022.
Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 14/03/2022, Văn A điều khiển xe ô tô biển số 51C-774.08 có trọng tải 24000kg thuộc sở hữu của Công ty V1, lưu thông trên Quốc Lộ A hướng từ ngã tư T đi ngã tư Vũng Tàu để rẽ ra Quốc lộ E. Khi đến đoạn ngã tư Vũng Tàu thuộc khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Lúc này cùng chiều phía trước xe ô tô do Anh điều khiển có xe mô tô biển số 60F1-358.93 do anh Nguyễn Văn D (sinh năm 2003, ngụ tại: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang) điều khiển. Do Anh điều khiển xe ô tô nhưng thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên để cản trước bên phải đầu xe ô tô 51C-774.08 va chạm với phía sau xe mô tô (mặt sau biển số, cụm đèn hậu)do anh D điều khiển, làm xe mô tô và anh Duy n xuống đường bị xe ô tô 51C-774.08 cuốn vào gầm xe gây tai nạn. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn D bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68% (Sáu mươi tám phần trăm).
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản dựng lại hiện trường tai nạn giao thông ngày 14/3/2022 của Công an thành phố B, đã xác định (Tất cả các dấu vết, kích thước đều được thu thập và đo vào mép đường kéo thẳng bên trái theo chiều đi từ ngã tư B đi về hướng cầu Đ. Góc ngoài trụ cầu vượt phía bên trái theo chiều Quốc lộ E đi sang khu công nghiệp B 1 làm mốc) như sau:
(01) là xe ô tô tải biển số 51C-744.03 dừng trên mặt đường đầu hướng cầu Đ, đuôi hướng ngã tư B. Trục bánh sau bên trái cách lề đường 02m80, trục bánh trước bên trái cách lề đường 01m95 và cách điểm mốc 03m70.
(02) là xe mô tô 60F1-358.93 nằm ngã bên phải dưới gầm xe ô tô tải (01). Đầu hướng Quốc lộ E, đuôi hướng sang khu công Nghiệp B. Trục bánh sau cách mép đường 02m80, trục bánh trước cách mép đường 01m70 và cách trục bánh trước bên trái (01) là 0m60.
(03) là vết cày của xe (2) tróc nhựa ngắt quãng trên mặt đường hướng từ ngã tư B đến thân xe (02) có chiều dài 13m80. Đầu vết cày cách lề đường 04m90 và cách vị trí vạch kẻ đường người đi bộ cắt ngang là 19m.
(04) là vết máu của nạn nhân dài 02m50 rộng 0m50. Đầu vết cách lề đường 03m90, đuôi vết cách lề đường 03m70 và cách trục bánh sau của (02) 01m80.
(05) Vết phanh của xe ô tô (01) để lại trên đường hướng từ ngã tư B đi cầu Đồng Nai dài 02m80, rộng 0m15. Đầu vết cách lề đường 04m80 và cách trục bánh trước bên phải của xe (01) là 01m70, đuôi vết cách mép đường 04m40.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1097/TgT ngày 07/12/2022 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B Kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn D - 2003 như sau:
- Thương tích vết sẹo mỏm cụt 1/3 dưới đùi phải + XQ đùi phải: Hình ảnh cắt cụt 1/3 giữa đùi phải, có phì đại xương vùng mỏm cụt: 65%.
- Thương tích vết sẹo lấy vạt da đùi phải: 03%
- Thương tích vết sẹo lấy vạt da đùi trái: 04%
- Thương tích vết sẹo ghép vạt da gối trái và cẳng chân trái: 03%
Tổng tỷ lệ thương tích theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT: 65% +4% +3% +3% =68%
Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 68% (Sáu tám phần trăm).
* Tại bản kết luận giám định số 1368/KLGĐ-PC09 ngày 08/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận chiều hướng dấu vết va chạm giữa xe ô tô 51C-774.08 và xe mô tô biển số 60F1-358.93 như sau:
Bên phải xe ô tô 51C-774.08 (dấu vết trượt xước, mất sơn màu vàng cản trước bên phải; dấu vết trượt xước, nứt vỡ tại ốp nhựa cản trước bên phải) có chiều hướng từ trước ra sau; phù hợp va chạm với phía sau xe mô tô biển số 60F1-358.93 (dấu vết trượt xước, dính chất màu vàng tại mặt sau biển số; dấu vết nứt vỡ, biến dạng cụm đèn hậu) chiều từ sau ra trước.
Gầm phía trước xe ô tô biển số 51C-774.08 (dấu vết trượt xước, mất bụi tại thanh đỡ dưới két nước; chiều từ trước ra sau) phù hợp va chạm với bên trái xe mô tô biển số 60F1-358.93 (dấu vết trượt xước, nứt vỡ, biến dạng tại các chi tiết bên trái: yếm chắn gió, khung gác chân trước, cần số cong gập vào trong) chiều từ trái qua phải.
* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Lô Văn A và Công ty V1 đã bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản chi phí khác cho bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Anh D yêu cầu Lô Văn A tiếp tục bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí khác cho anh D theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ngày 02/01/2024 Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai có nhận đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt của anh Nguyễn Văn D do công an xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang gửi đến, theo đó anh D chưa có yêu cầu bị cáo Lô Văn A phải bồi thường cho anh D trong vụ án này.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả: Xe ôtô đầu kéo biển số 51C-774.08, xe mô tô biển số 60F1-358.93 cho chủ sở hữu.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, đã quyết định như sau:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lô Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lô Văn A 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Ngày 02/01/2024, bị cáo Lô Văn A kháng cáo xin được hưởng án treo. Lý do: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi bố mẹ thần kinh tai điếc trong chiến tranh, vợ bỏ đi phải nuôi con mới 07 tuổi, bị cáo là người tham gia quân sự và gia đình bị cáo có công với cách mạng.
4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy cấp sơ thẩm giải quyết là có cơ sở. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức hình phạt bản án sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng như kháng cáo của bị cáo đã nêu, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo Lô Văn A trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Lô Văn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về tội danh:
Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 14/03/2022, tại ngã tư Vũng Tàu thuộc khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lô Văn A có hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-774.08 nhưng thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên để cản trước bên phải đầu xe ô tô 51C-774.08 va chạm với phía sau xe mô tô 60F1-358.93 (mặt sau biển số, cụm đèn hậu) do anh Nguyễn Văn D điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn D bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68%.
Như vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lô Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Về xét kháng cáo:
Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tuyên buộc mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, nên không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[6] Về án phí: Bị cáo Lô Văn A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Xét quan điểm của đại diện của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lô Văn A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
1. Quyết định hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lô Văn A 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lô Văn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thế Phương |
Bản án số 365/2024/HS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 365/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm
