TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 365/2024/HNGĐ-ST Ngày 04/06/2024 V/v : Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh
2. Bà Lương Thị Phương
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thu Trang
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 196/2024/LHST ngày 28 tháng 03 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1986
HKTT: Số B ngõ A phố N, phường N, quận B, Hà Nội.
Nơi gửi văn bản tố tụng: Số A ngõ Q, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Phùng Mạnh H, sinh năm 1981
HKTT và nơi ở: Số B ngõ A phố N, phường N, quận B, Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024, bản tự khai và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày như sau:
Chị và anh Phùng Mạnh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/3/2013 tại UBND phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Kể từ khi kết hôn cho tới tháng 02/2024 chị và anh H sống chung với bố mẹ chồng tại số B ngõ A phố N, phường N, quận B, Hà Nội. Từ tháng 02/2024 chị T và con trai là Phùng Bảo T1 đã không ở đây nữa mà thuê nhà ở nơi khác (Địa chỉ: số I phố M, phường Ô, quận Đ, Hà Nội), còn anh H vẫn ở cùng bố mẹ chồng chị tại số B ngõ A phố N.
Cuộc sống hôn nhân của anh chị chỉ hạnh phúc được mấy tháng đầu khi chưa có con, sau đó thường xuyên có mâu thuẫn, tuy chung sống cùng nhà nhưng anh chị không quan tâm đến nhau mà chỉ trao đổi các vấn đề có liên quan đến con, kinh tế riêng biệt. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là anh H không có trách nhiệm với gia đình, thời gian gần đây anh H không chịu đi làm dẫn đến không có thu nhập để gánh vác gia đình cùng với chị, mọi công việc trong gia đình như đối nội đối ngoại và tiền học tập của con anh H đều phó mặc cho chị và sự giúp đỡ của bố mẹ chồng chị.
Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không đạt được kết quả mà mâu thuẫn giữa vợ chồng chị ngày càng trầm trọng. Cho đến nay chị T xác định không còn tình cảm với anh H, anh chị không có biện pháp nào để vợ chồng có thể hòa thuận nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để chị sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị T trình bày trong quá trình chung sống với anh H, anh chị có một con chung là Phùng Bảo T1 – sinh ngày 17/10/2013. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và đề nghị anh H cấp dưỡng tiền nuôi con là 3.000.000đ/1 tháng cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung: Chị T trình bày, chị và anh H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về các khoản nợ: Chị T trình bày, chị và anh H không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Phùng Mạnh H trình bày tại Tòa án như sau:
Anh và chị Trần Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/3/2013 tại UBND phường N, quận B, thành phố Hà Nội và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục cổ truyền của Việt Nam. Kể từ khi kết hôn cho tới tháng 02/2024 anh chị sống chung với bố mẹ của anh H tại số B ngõ A phố N, phường N, quận B, Hà Nội. Từ tháng 02/2024 chị T đưa con đi thuê nhà ở nơi khác, còn anh vẫn ở chung cùng bố mẹ.
Thời gian đầu khi mới kết hôn, cuộc sống chung giữa vợ chồng anh khá hạnh phúc. Khoảng 2 đến 3 năm trở lại đây anh nhận thấy tình cảm của chị T đối với anh cứ lạnh nhạt dần. Đối với riêng anh vẫn rất yêu thương vợ con nhưng có điểm hạn chế là anh không biết thể hiện tình cảm đối với vợ con. Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày vì anh là người sống khép kín, ít chia sẻ nên vợ chồng chưa được hiểu nhau lắm, lâu dần tình cảm giữa vợ chồng anh ngày một xa cách nhau hơn. Những bức xúc dồn nén lâu ngày làm cho anh ức chế nên cũng có quát nạt chị T, có 02 lần anh tát chị T, việc anh H cũng nhận thấy mình sai trái và anh rất ân hận nên có xin lỗi chị T nhưng không được sự chấp nhận của chị T.
Nay chị T có đơn xin ly hôn với anh, anh H không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng anh có thể đoàn tụ cùng nhau chăm sóc con nhỏ.
Về con chung: Anh H trình bày giữa anh và chị T có một con chung là Phùng Bảo T1 – sinh ngày 17/10/2013. Trường hợp phải ly hôn anh H đồng ý để chị T trực tiếp nuôi con và tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con là 3.000.000đ/1 tháng cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung (bao gồm động sản và bất động sản): Anh H trình bày không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ: Anh H trình bày giữa anh và chị T không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên anh cũng nhất trí.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn - chị Trần Thị T có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Mạnh H. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con là 3.00.000đ/1 tháng.
Bị đơn - anh Phùng Mạnh H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án, không đồng ý ly hôn với chị T. Trong trường hợp phải ly hôn thì anh H đồng ý để chị T trực tiếp nuôi con chung là Phùng Bảo T1 và tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 3.000.000đ/1 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, xác minh và thu thập chứng cứ đúng quy định.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung là Phùng Bảo T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh H tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 3.000.000đ/1 tháng nên ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về ly hôn với bị đơn là anh Phùng Mạnh H cư trú tại số B ngõ A phố N, phường N, quận B, Hà Nội. Đây là tranh chấp về ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chị T đã có bản tự khai, Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của chị T và anh H, đã tiến hành hòa giải 02 lần nhưng việc hòa giải đoàn tụ là không thành. Tòa án cũng đã ghi ý kiến của đại diện gia đình, ghi ý kiến của con chung, đồng thời đã xác minh tại địa phương nơi chị T và anh H cư trú.
[3] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Phùng Mạnh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/3/2013 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận B, Hà Nội (giấy chứng nhận kết hôn số 36/2013, quyển số 01/2013). Đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh H chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu khi mới kết hôn sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm vì tính cách, lối sống, quan điểm sống không phù hợp. Tuy anh chị mới sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay nhưng thực tế là mâu thuẫn giữa vợ chồng đã âm ỉ kéo dài với sự chứng kiến của những người thân trong gia đình. Điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng của anh chị ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc đã không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải 02 lần nhằm mục đích giúp anh H và chị T khắc phục được những tồn tại để có thể đoàn tụ nhưng không thành, chị T kiên quyết xin ly hôn với anh H và thực tế chị T đã chuyển ra khỏi nhà đi ở nơi khác, không còn chung sống với anh H. Mặc dù anh H muốn đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vậy nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H là có căn cứ.
Về con chung: Xác nhận chị T và anh H có 01 con chung là Phùng Bảo T1 - sinh ngày 17/10/2013.
Xem xét nguyện vọng của cháu Phùng Bảo T1: Tại biên bản ghi ý kiến ngày 10/5/2024 của cháu T1 thì cháu T1 có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là Trần Thị T vì hiện nay cháu đang được mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ăn ở ổn định nên cần tránh mọi xáo trộn để ổn định tâm lý cho trẻ nhỏ là điều cần thiết. Hơn nữa chị T có công việc và thu nhập ổn định hơn so với anh H, thời gian làm việc trong giờ hành chính nên đảm bảo được điều kiện về kinh tế và thời gian để nuôi con. Anh H cũng đồng ý để chị T trực tiếp nuôi con trong trường hợp nếu phải ly hôn. Vậy nên giao con chung là Phùng Bảo T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và có căn cứ. Anh H tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 3.000.000đ/1 tháng cho đến khi con trưởng thành nên được ghi nhận.
Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị T và anh H đều trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T và anh H đều trình bày không có khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn với anh Phùng Mạnh H.
- Về con chung: Giao con chung là Phùng Bảo T1 - sinh ngày 17/10/2013 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh H cấp dưỡng tiền nuôi con là 3.000.000₫ (ba triệu đồng)/1 tháng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị T và anh H đều trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị T và anh H đều trình bày không có khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005102 ngày 28/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T và anh Phùng Mạnh H đều có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Phùng Mạnh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Nam Hải |
Bản án số 365/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 365/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị T được ly hôn với anh Phùng Mạnh H.
