Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 364/2024/HS-PT

Ngày: 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành

Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân, ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Duyên- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 193/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS- ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Phùng Huy C; tên gọi khác: không; sinh năm 1979, tại Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Đ, xã B, T, Hà Nội; nơi ở: thôn Đ, xã B, T, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phùng Huy T1 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Vũ Kiều Thanh T2 (sinh năm 1995) và có 02 con (sinh năm 2017 và 2019); tiền án, tiền sự: không;
  2. Nhân thân: ngày 22/4/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích; ngày 18/12/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc; ngày 25/02/2011, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội bị xử phạt 72 tháng tù về các tội Gây rối trật tự công cộng và Chống người thi hành công vụ (ra trại ngày 06/10/2015); đều đã xóa án tích;

    Bị cáo Phùng Huy C bị bắt và tạm giam từ ngày 09/3/2023, tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.

  3. Nguyễn Văn T; tên gọi khác: không; sinh năm 1992, tại Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn C, xã X, P, Hà Nội; nơi ở tạm trú: thôn P, xã T, L, Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Bá S (đã chết) và bà Đỗ Thị T3; chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023, tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Phùng Huy C có ông Nguyễn Ngọc K; luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; 0933 898 868; có mặt.

* Người bị hại: anh Vương Anh T4; sinh năm 1979; địa chỉ: thôn V, xã N, Q, Hà Nội; không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.

* Ngoài ra, còn có bị cáo Cấn Quang V: không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 01 đến tháng 04 cùng năm 2022, anh Vương Anh T4 chở và đổ đất thuê cho Phùng Huy C tại Làng V 54 dân tộc; C còn nợ tiền công của anh T4 khoảng 140.000.000 đồng nhưng khất nần, chưa trả tiền.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/10/2022, anh T4 sử dụng số thuê bao 0973.940.999 gọi điện cho C (số thuê bao 0989.188.811) đòi tiền công đổ đất thì C nói “mày đổ đất không đúng tiến độ, sai loại đất nên họ chưa thanh toán” rồi hai bên xảy ra cãi, chửi nhau qua điện thoại và hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. C gọi điện rủ Trần Văn T5 (sinh năm 1994; trú tại: thôn S, Y, T) đi đánh nhau với anh T4; T5 đang ngồi uống bia cùng Cấn Quang V nên rủ V “lên xe đi cùng anh có việc”. T5 gọi điện cho Nguyễn Văn T, nói “Anh đang đâu đấy, sang nhà anh C đi giải quyết việc”. Sau đó, T5 cùng VT đến nhà C thì C đã chuẩn bị sẵn 04 đao (mỗi đao dài khoảng 56cm đến 69cm) và 01 thanh gậy gỗ (dài 35 cm) để ở ghế phụ phía trước của xe ô tô. Khoảng 15 giờ cùng ngày, C điều khiển xe ô tô Huyndai Creta (BKS: 30H-756.01) chở T, T5V đến nhà anh T4 tại xã N để giải quyết

mâu thuẫn; khi C đi đến thôn C (B) thì Phạm Bá D (sinh năm 1993; trú tại: thôn F, xã T, B, Hà Nội) gọi điện và hỏi sự việc thì C nói “Quay lại đón thằng D” rồi C lái xe quay lại thôn Đ (B, T) để đón D lên xe.

Trên đường đi, C tiếp tục gọi điện cho anh T4, thách thức đánh nhau; khi đến, anh T4 không có nhà nên nhóm C đến văn phòng làm việc của anh T4 (đường C- khu C, thôn B, T, T). Cả nhóm đi vào thì thấy văn phòng đóng cửa, anh T4 đang cầm 01 con dao rựa đứng bên trong; C hô “Nó cầm dao, lấy đồ” rồi C, T5, DV ra xe ô tô của C lấy 04 chiếc đao (mỗi người cầm 01 đao), T cầm 01 thanh gậy gỗ. C cầm đao đi vào đập cửa, chửi và yêu cầu T4 ra gặp nên anh T4 đi ra rồi cùng C đến quán nước của ông Nguyễn Văn Q (gần đó) ngồi nói chuyện. Sau đó, anh Hoàng Thanh B (lái xe ô tô loại xe 16 chỗ) và anh Phạm Văn C1 (bạn anh T4) cũng đến quán nước và hòa giải mâu thuẫn giữa các bên.

Trong khi nói chuyện, C cầm đao đập 02 phát vào lưng anh T4 rồi cắm đao xuống bàn uống nước và nói chuyện nợ nần với anh T4. Thơi và D (đều cầm đao), T (cầm gậy gỗ) đứng xung quanh vị trí anh T4C đang nói chuyện, V (cầm đao) ra đứng cạnh xe ô tô 16 chỗ để xem có người bên trong xe ô tô hay không. Trong quá trình nói chuyện, anh T4 bảo “nợ thì phải trả chứ mang dao kiếm đến đây làm gì”; C dùng tay trái vỗ vào gáy anh T4 02 phát nên anh T4 đứng dậy, hất tay C và vung tay định tát thì C đẩy anh T4 ra; Dương cầm đao chém 01 phát trúng tay trái anh T4 nên anh T4 bỏ chạy; C (cầm đao), D (cầm đao) và T (cầm gậy) cùng đuổi theo; anh T4 bị D chém 01 phát vào mông bên phải và chạy vào nhà; sau đó, nhóm của C lên xe ô tô, đi về nhà C và cất hung khí tại nhà C.

Hậu quả: anh T4 bị 01 vết thương rách da vùng mông phải dài 7cm; 01 vết thương xước da vùng lưng dài 15cm; 01 vết bầm tím sưng tấy thắt lưng trái dài 10cm; 01 vết bầm tím vùng vai phải dài 5cm; gãy rạn và sưng nề 1/3 xương trụ cẳng tay trái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 86 ngày 02/2/2023 của Trung tâm P1 (bút lục 120- 122) kết luận đối với thương tích của anh Vương Anh T4: Vết thương vùng mông bên phải: 2%; Vết xước da vùng lưng: 1%; Vết thương mất da vùng mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái: 2%; Gãy rạn thân xương trụ trái: 6%. Hiện chưa đánh giá hết mức độ di chứng biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau khi có căn cứ. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn

thương do vật tày có cạnh, vật có cạnh sắc gây nên. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khoẻ: 11%.

Ngày 15/6/2023 (bút lục 123), Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của người bị hại Vương Anh T4; nhưng anh T4 từ chối giám định bổ sung.

Vật chứng thu giữ: 01 tuýp sắt dài 52cm, 02 thanh gậy gỗ dài 35cm, 04 thanh đao dài từ 56cm đến 69cm, 05 con dao dài từ 25cm đến 43cm, 05 thanh kiếm dài từ 65cm đến 94 cm, 01 đèn pin, 01 côn nhị khúc, 03 vỏ ốp kiếm, 07 bao đựng dao; 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy S21 màu đen (của C); 01 điện thoại di động Iphone X màu bạc (của T); 01 két sắt Hòa P (kích thước 84cm x 48cm x 37cm), 01 đầu thu dữ liệu camera Dahua màu đen và 02 thẻ nhớ dữ liệu camera; 01 máy tính laptop HP màu bạc.

Đối với Phạm Bá D: do bị can đã bỏ trốn khỏi địa phương, Chính quyền địa phương và gia đình không rõ bị can D làm gì và ở đâu; nên ngày 30/6/2023 (bút lục 447), Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau đối với bị can Phạm Bá D1.

Đối với Trần Văn T5: ngày 19/10/2022, T5 đã tử vong do tai nạn giao thông tại xã P (Q, Hà Nội) nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Trần Văn T5.

Đối với 01 két sắt, 01 đầu thu dữ liệu camera, 02 thẻ nhớ và 01 laptop: kết quả điều tra xác định đều không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng và trao trả các tài sản này cho chị Vũ Kiều Thanh T2 (vợ của C) theo quy định.

Người bị hại Vương Anh T4: đề nghị xử lý nghiêm minh đối với Phùng Huy C và các đồng phạm theo quy định của pháp luật; người bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS- ST ngày 17/01/2024, Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phùng Huy C 36 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2023.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Cấn Quang V 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23 và ngày 24/01/2023, các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phùng Huy C 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật nên đề nghị không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Phùng Huy C phân tích về nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc: bị cáo Phùng Huy C đã có nhiều tiền án nhưng đều đã được xóa án tích nhiều năm nên được xác định là chưa có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo là lao động trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo đã tích cực tác động gia đình đi xin lỗi và bồi thường thiệt hại nhưng người bị hại từ chối nhận bồi thường; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phùng Huy C; tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và chăm sóc gia đình, người thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T đều phù hợp quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau và phù hợp lời khai của các đồng phạm, người bị hại và những người làm chứng, phù hợp nội dung các tài liệu về khám và điều trị thương tích của người bị hại, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: ngày 03/10/2022, Phùng Huy C đã chuẩn bị sẵn các hung khí là 04 đao (dài từ 56 cm đến 69 cm) và 01 gậy gỗ dài 35cm rồi rủ Nguyễn Văn T và các đồng phạm khác đi tìm để đánh anh Vương Anh T4; tại khu vực nơi làm việc của anh T4 (đường C, khu C cao H, thôn B, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội), Phùng Huy C, Nguyễn Văn T và các đồng phạm đã dùng hung khí nguy hiểm (đã chuẩn bị trước nêu trên) tấn công, hành hung và gây thương tích cho người bị hại Vương Anh T4, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Hành vi của Phùng Huy CNguyễn Văn T đã phạm tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm quy kết các bị cáo CThọ C2 theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm đúng như quy kết của Bản án sơ thẩm, bày tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin lỗi người bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.

[3] Bị cáo Phùng Huy C là đối tượng chủ mưu, khởi xướng, chỉ huy và trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm tấn công người bị hại nên bị cáo C có vai trò chính và chịu trách nhiệm chủ yếu trong đồng phạm; bị cáo Nguyễn Văn T tuy không tác động trực tiếp vào cơ thể người bị hại nhưng chủ động và tích cực tham gia từ

đầu, việc bị cáo T có mặt tại hiện trường và cầm gậy gỗ trên tay có tác dụng hỗ trợ về mặt tinh thần đối với bị cáo C và các đồng phạm khác nên bị cáo T có vai trò giúp sức tích cực trong đồng phạm.

[4] Bị cáo Phùng Huy C đã có nhiều tiền án và đều đã được xóa án tích nhưng thể hiện là bị cáo có nhân thân xấu, đã được pháp luật hình sự giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng vẫn cố ý phạm tội; bị cáo C không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn” là các tình tiết theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C. Bị cáo Nguyễn Văn T không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T cũng theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nguyên nhân sự việc và hậu quả xảy ra, nhân thân và vai trò tham gia của các bị cáo trong đồng phạm để áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo CT phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và không cho hưởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo C 36 tháng tù và xử phạt bị cáo T 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc so với mức độ phạm tội của các bị cáo và hậu quả xảy ra; tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều được áp dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Kháng cáo được chấp nhận và Cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên các bị cáo kháng cáo đều không phải phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

[8] Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS- ST ngày 17/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T:
    • * Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Phùng Huy C 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2023.
    • * Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 54 và 58 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 16 (mười sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/6/2023.
  2. Các bị cáo Phùng Huy CNguyễn Văn T đều không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Cấn Quang V; về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thạch Thất;
  • - Công an huyện Thạch Thất;
  • - TAND huyện Thạch Thất;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Thất;
  • - Các BCKC; người bị hại;
  • - Trại tạm giam số 1- CATPHN;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM NĂNG THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 364/2024/HS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 364/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phùng Huy C & ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger