TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 364/2024/DS-ST Ngày 21-11-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Tới
- Bà Nguyễn Kim Lên
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 384/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1.
Địa chỉ: Số B, L, phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Châu Văn N - Phó Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T theo văn bản ủy quyền số 251 ngày 11/4/2023 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Đặng Thị P, sinh năm: 1952 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Cao Ngọc T, sinh năm: 2006 (vắng mặt).
- Chị Cao Ngọc T1, sinh năm: 2000 (vắng mặt).
- Bà Lê Ngọc P1 (vắng mặt).
- Ông Cao Quốc D (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Kiều H, sinh năm: 1989 (có mặt).
- Ông Cao Quốc C (vắng mặt).
- Bà Cao Thị O, sinh năm: 1977 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Kiều T2, sinh năm: 1987 (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 11/4/2023, quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn ông Châu Văn N trình bày: Ngày 09/7/2019, Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T có ký hai hợp đồng tín dụng số 7504-LAV-201903049/HĐTD và 7504-LAV-201903050/HĐTD với bà Đặng Thị P. Phương thức vay: theo hạn mức tín dụng; Mục đích sử dụng tiền vay: sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; Thời hạn vay 12 tháng; Số tiền vay của hai hợp đồng: 215.000.000 đồng (kèm theo phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ).
Để đảm bảo khoản vay trên bà Đặng Thị P đã ký hợp đồng thế chấp số 12A 0123/HĐTC ngày 25/3/2016, giá trị tài sản 387.142.000 đồng, thửa đất số 203, 256, tờ bản đồ số 03, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 708899 và AM 708900, diện tích 19.357,1m² (đất ở, đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa), đất tọa lạc tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Quá trình vay bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng mặc dù ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở. Nay ngân hàng yêu cầu bà P thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/11/2024, tổng dư nợ của bà P là 256.953.900 đồng (tròn số) (trong đó vốn: 115.000.000 đồng; lãi: 141.953.900 đồng) và lãi phát sinh theo lãi suất đã ký theo hợp đồng tín dụng mà bà P đã ký. Trường hợp không trả được nợ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp; yêu cầu các tài sản hợp pháp khác của bà P để trả khoản nợ trên cho ngân hàng.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị P trình bày: Đồng ý thanh toán vốn và lãi cho ngân hàng.
- Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều T2 trình bày: Bà có nhận cố đất của bà P cách nay khoảng 06 năm, cố toàn bộ phần đất với giá 210.000.000 đồng, chỉ bà cố đất với bà P không liên quan đến ai khác, hiện nay chưa hết thời hạn cố, bà xác định không yêu cầu gì trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp bà sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp là phần đất bà đang cố của bà P thì bà đồng ý tự nguyện giao đất để xử lý theo quy định. Đồng thời bà xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, ông N đồng ý vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp với diện tích khu nhà mồ 30m² và lối đi vào giữa khu nhà mồ diện tích ngang 02m từ giáp mí khu nhà mồ đến giáp mí lộ hiễn hữu. Thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà P trả số tiền 256.953.900 đồng (tròn số), (trong đó vốn: 115.000.000 đồng; lãi: 141.953.900 đồng).
Bà H thống nhất cùng với gia đình thanh toán nợ gốc và lãi theo yêu cầu của ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 299, 318, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Đặng Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A tổng số tiền tính đến ngày 21/11/2024 là 256.953.900 đồng (tròn số) và trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ gốc. Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp đối với phần đất ông Cao Văn Q và bà Đặng Thị P đứng tên giấy chứng nhận, tiếp tục duy trì phần diện tích còn lại để đảm bảo thi hành án. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Bà Đặng Thị P có nơi cư trú tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp là hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thị P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T, chị T1, bà P1, ông D, ông C, bà O vắng mặt không lý do; bà T2 có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định.
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là Ngân hàng A yêu cầu bà Đặng Thị P trả tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng với bà P do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Bị đơn là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh, mục đích vay để sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Như vậy, tranh chấp được xác định là tranh chấp về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;
[2] Về nội dung tranh chấp: Ngày 09/7/2019, Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T có ký hai hợp đồng tín dụng số 7504-LAV-201903049/HĐTD và 7504-LAV-201903050/HĐTD với bà Đặng Thị P. Phương thức vay: theo hạn mức tín dụng; Mục đích sử dụng tiền vay: sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; Thời hạn vay 12 tháng; Số tiền vay của hai hợp đồng: 215.000.000 đồng (kèm theo phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ).
Quá trình vay vốn, bà P không trả lãi nhưng có trả nợ gốc số tiền 100.000.000 đồng và vi phạm thời hạn trả nợ gốc, trả lãi theo cam kết trong hợp đồng tín dụng là vi phạm Hợp đồng tín dụng số 7504-LAV-201903049/HĐTD và 7504-LAV-201903050/HĐTD cùng ngày 09/7/2019. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/11/2024, tổng dư nợ của bà P là 256.953.900 đồng (tròn số) (trong đó vốn: 115.000.000 đồng; lãi: 141.953.900 đồng) như ngân hàng trình bày là có cơ sở. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đặng Thị P trả số tiền nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên theo hợp đồng tín dụng theo khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử thấy rằng. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 12A 0123/HĐTC ngày 25/3/2016, giá trị tài sản 387.142.000 đồng, thửa đất số 203, 256, tờ bản đồ số 03, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 708899 và AM 708900, diện tích 19.357,1m² (đất ở, đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa), đất tọa lạc tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Xét thấy hợp đồng thế chấp được lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật, đến nay các đương sự không có tranh chấp ý kiến gì về hợp đồng thế chấp đã ký.
[4] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì phần đất đứng tên ông Cao Văn Q và bà Đặng Thị P, hiện nay ông Q đã chết, hiện bà P ở trên đất thế chấp, bà P cầm cố cho bà T2, hiện bà T2 đang quản lý sử dụng. Đối với phần đất theo hợp đồng thế chấp số 12A 0123/HĐTC ngày 25/3/2016, qua xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện trên phần đất có khu nhà mồ, có hai ngôi mộ diện tích 30m². Do đó hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị vô hiệu một phần diện tích đối với khu nhà mồ 30m² và lối đi vào giữa khu nhà mồ diện tích ngang 02m từ giáp mí khu nhà mồ đến giáp mí lộ hiễn hữu.
[5] Quá trình giải quyết vụ án: Các con của ông Q, bà P không có yêu cầu, cũng như không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, việc nguyên đơn đề nghị phát mại tại sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp cũng như phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Phần đất trên hiện bà T2 đang quản lý nhưng không có yêu cầu gì trong vụ án này mà để tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, trường hợp bà P không trả được nợ cho ngân hàng buộc phải giao tài sản thế chấp thì phải trừ ra phần diện tích lối đi và khu nhà mồ, phần diện tích còn lại buộc bà P, các con, cháu bà P gồm chị T, chị T1, bà P1, ông D, bà H, ông C, bà O và bà T2 đang quản lý, sử dụng phần đất phải giao tài sản trên cho Cơ quan thi hành án phát mại để đảm bảo trả khoản nợ trên cho ngân hàng.
[6] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Đương sự phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Do yêu cầu của ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng (thẩm định tại chỗ) theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có tạm nộp số tiền chi phí thẩm định tại chỗ 400.000 đồng, đã chi trả xong. Nguyên đơn yêu cầu được nhận lại nên buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 400.000 đồng là phù hợp.
[8] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đã dự nộp được nhận lại. Bị đơn bà Đặng Thị P được miễn án phí (do người cao tuổi) là đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 157, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 130, 299, 317, 318; 319, 322, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 - Buộc bà Đặng Thị P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền là 256.953.900 đồng (Hai trăm năm mươi sáu triệu chín trăm năm mươi ba nghìn chín trăm đồng). Trong đó vốn: 115.000.000 đồng; lãi: 141.953.900 đồng) theo hợp đồng tín dụng số 7504-LAV-201903049/HĐTD và 7504-LAV-201903050/HĐTD cùng ngày 09/7/2019 tính đến ngày 21/11/2024.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 21/11/2024, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Tuyên bố hợp đồng thế chấp số 12A 0123/HĐTC ngày 25/3/2016 giữa Ngân hàng với bà P vô hiệu một phần là phần đất diện tích khu nhà mồ diện tích 30m² và lối đi vào giữa khu nhà mồ diện tích ngang 02m từ giáp mí khu nhà mồ đến giáp mí lộ hiễn hữu. Trường hợp bà Đặng Thị P không trả hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng N1 thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo hợp đồng thế chấp số 12A 0123/HĐTC ngày 25/3/2016 để thu hồi nợ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đặng Thị P có trách nhiệm hoàn trả số tiền 400.000 đồng cho Ngân hàng N1.
Kể từ ngày Ngân hàng N1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Đặng Thị P không thi hành xong khoản tiền trên, bà P còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Đặng Thị P được miễn án phí (do người cao tuổi). Ngân hàng N1 không phải chịu án phí, ngày 16/5/2023 Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí số tiền 7.791.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo biên lai số 0006752 được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đ |
Bản án số 364/2024/DS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 364/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
