Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 364/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 17/9/2024.

V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung,

chia tài sản chung”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí;
  2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Cán bộ Hội Phụ nữ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 427/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, con chung, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 359/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Hữu Đ, sinh năm 1984;
  2. Địa chỉ: 3, tổ B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1987;
  4. Địa chỉ: Nhà không số, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Đ, bà T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phan Hữu Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà T tự nguyện chung sống, có tìm hiểu, yêu thương và kết hôn vào ngày 25/8/2010 được Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, không có sự ép buộc. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, hiện nay ông với bà T mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, ông không còn tình cảm với bà T nên nộp đơn xin ly hôn với bà T.

- Về con chung: Ông và bà T có 03 con chung tên Phan Hoàng P, sinh ngày 26/9/2010; Phan Kim N, sinh ngày 13/12/2014 và Phan Nhật M, sinh ngày 02/12/2017. Ly hôn, ông đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba cháu. Tạm thời không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuy nhiên tại buổi hòa giải ngày 28/8/2024, bà T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M; giao cháu P và cháu N cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng thì ông đồng ý. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

- Về tài sản chung: Đối với yêu cầu phản tố chia tài sản chung của bà T là số tiền 725.000.000 đồng thì ông không đồng ý vì đây là tài sản riêng của ông.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Hoàng Thị T trình bày:

- Về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn như ông Đ trình bày là đúng. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng những năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Đ, nên với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Đ thì bà đồng ý.

- Về con chung: Bà và ông Đ có 03 con chung tên Phan Hoàng P, sinh ngày 26/9/2010; Phan Kim N, sinh ngày 13/12/2014 và Phan Nhật M, sinh ngày 02/12/2017. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M; giao cháu P và cháu N cho ông Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

- Về tài sản chung: Trước đây, bà có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn bao gồm:

  1. Nhà và đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc một phần của thửa đất số 81, tờ bản đồ số 168 phường L, có diện tích 109,3m². Nhà đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng mua giấy tay từ ông Nguyễn Hồ T1 vào năm 2014. Hiện nay, nhà đất này đã bán với giá 1.450.000 đồng. Bà yêu cầu được nhận ½ giá trị bằng tiền là 725.000.000 đồng.
  2. Quyền sử dụng đất tại địa chỉ tổ C, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc một phần của thửa đất số 47, tờ bản đồ số 53 phường L, có diện tích 100m² (Lô đất số 17 do chủ sử dụng đất tự phân lô). Quyền sử dụng đất

này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng bà mua giấy tay từ ông Đỗ Thành Đ1, bà Nguyễn Thị G vào năm 2016. Hiện nay, quyền sử dụng đất này do ông Phan Hữu Đ đang trực tiếp quản lý, có giá trị khoảng 200.000.000 đồng. Bà yêu cầu được nhận ½ giá trị bằng tiền là 100.000.000 đồng.

  1. Quyền sử dụng đất tại địa chỉ phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc một phần của thửa đất số 84, tờ bản đồ số 31 phường T, cụ thể: Lô đất số 18B42, có diện tích 95m² nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn H vào năm 2011. Quyền sử dụng đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng (sổ chung). Hiện nay, quyền sử dụng đất này do ông Phan Hữu Đ đang trực tiếp quản lý, có giá trị khoảng 200.000.000 đồng. Bà yêu cầu được nhận ½ giá trị bằng tiền là 100.000.000 đồng.
  2. Quyền sử dụng đất tại địa chỉ phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc một phần của thửa đất số 84, tờ bản đồ số 31 phường T, cụ thể: Lô đất số 18B18, có diện tích 100m2 nhận chuyển nhượng từ ông Trần Đình V vào năm 2013 (ông V nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn H). Quyền sử dụng đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng (sổ chung). Hiện nay, quyền sử dụng đất này do ông Phan Hữu Đ đang trực tiếp quản lý, có giá trị khoảng 200.000.000 đồng. Bà yêu cầu được nhận ½ giá trị bằng tiền là 100.000.000 đồng.
  3. Quyền sử dụng đất tại địa chỉ phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc một phần của thửa đất số 211 (số mới 13), tờ bản đồ số 93 (số mới 53) phường T, cụ thể: Lô đất số 6, có diện tích 125m² nhận chuyển nhượng từ ông Trương Minh D vào năm 2018. Quyền sử dụng đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng (sổ chung). Hiện nay, quyền sử dụng đất này do ông Phan Hữu Đ đang trực tiếp quản lý, có giá trị khoảng 200.000.000 đồng. Bà yêu cầu được nhận ½ giá trị bằng tiền là 100.000.000 đồng.

Bà yêu cầu được chia 1/2 giá trị tài sản chung bằng tiền, tổng giá trị bà đề nghị chia tạm tính là 1.125.000 đồng (một tỷ một trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Nay, bà xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

Bà chỉ giữ nguyên yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc một phần của thửa đất số 81, tờ bản đồ số 168 phường L, có diện tích 109,3m². Nhà đất này ông bà đã bán với giá 1.450.000 đồng. Bà yêu cầu được nhận ½ giá trị bằng tiền là 725.000.000 đồng.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Đ và bà T; Giao con chung là cháu P và cháu N cho ông Đ nuôi dưỡng, giao cháu M cho bà T nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng vì hai bên không yêu cầu. Đối với tài sản chung: Bà T yêu cầu chia đôi số tiền bán nhà và đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể là: 725.000.000 đồng. Xét thấy: Tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hồ T1 đối với thửa đất tại địa chỉ: tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có ghi nhận bên nhận chuyển nhượng là ông Phan Hữu Đ và bà Hoàng Thị T (bút lục 73); Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bút lục 76); Biên bản giao nhận tiền (bút lục 81) và hợp đồng ủy quyền (bút lục 80) ông Đ và bà T đều cùng tham gia để thực hiện giao dịch với ông Nguyễn Thành N1. Như vậy tại thời điểm đó ông Đ đã biết và xác định rằng đây là tài sản chung vợ chồng. Tại biên bản đối chất ngày 22/8/2024, ông Đ cũng xác nhận đã quản lý và sử dụng số tiền 1.450.000.000 đồng có được từ việc bán nhà đất nêu trên. Do đó, bà T yêu cầu buộc ông Đ phải giao lại cho bà ½ số tiền có được từ việc bán nhà đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ chấp nhận. Về nợ chung, các đương sự xác định không có nên không xem xét giải quyết. Các đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tố tụng:

- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp: Ông Phan Hữu Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn, con chung với bà Hoàng Thị T. Bà T có đơn yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định ông Đ là nguyên đơn, bà T là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung".

- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Hoàng Thị T có địa chỉ thường trú và cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của ông Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hữu Đ2 và bà Hoàng Thị T chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 25/8/2010. Đối chiếu quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định hôn nhân của ông Đ2 và bà T là hợp pháp.

Ông Đ2 và bà T đều thừa nhận sau quá trình chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Đến nay tình cảm vợ chồng đã không còn, không còn quan tâm đến nhau.

Xét thấy: Ông Đ2 và bà T đều thừa nhận sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, hai vợ chồng hay gây gỗ, xung đột, cãi vã với nhau. Ông Đ2 xin ly hôn thì bà T cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông Đ2 và bà T là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của ông Đ2 và bà T là phù hợp.

2.2. Về con chung: Ông Đ2 và bà T có 03 con chung tên Phan Hoàng P, sinh ngày 26/9/2010; Phan Kim N, sinh ngày 13/12/2014 và Phan Nhật M, sinh ngày 02/12/2017. Ly hôn, bà T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M; giao cháu P và cháu N cho ông Đ2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Phía ông Đ2 cũng đồng ý với đề nghị của bà T, ông đồng ý giao cháu M cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P và cháu N. Tạm thời không ai cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Xét thấy: Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Ông Đ2 và bà T đều có thu nhập và nơi ở ổn định, không ai vi phạm đạo đức hay mắc bệnh nghề nghiệp; Vì vậy cả hai đều có điều kiện và khả năng nuôi con như nhau. Hiện nay, cháu P và cháu N đang sinh sống cùng cha, cháu M đang sinh sống cùng mẹ. Ông Đ2 và T đều có công việc, thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi các cháu. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng, xáo trộn đến cuộc sống, tâm sinh lý, sinh hoạt hằng ngày và học tập của các cháu nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Phan Hoàng P, sinh ngày 26/9/2010; Phan Kim N, sinh ngày 13/12/2014 cho ông Đ2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Giao cháu Phan Nhật M, sinh ngày 02/12/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

2.3. Về tài sản chung:

Bà T có đơn rút một phần yêu cầu phản tố chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bà T.

Bà T giữ nguyên yêu cầu chia đôi số tiền bán nhà và đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể là: 725.000.000 đồng, do bà T xác định đây là tài sản chung vợ chồng. Ông Đ2 không đồng ý yêu cầu phản tố này của bà T vì ông cho rằng đây là tài riêng do ông tạo lập trước hôn nhân, không phải tài sản chung vợ chồng.

Xét thấy: Ông Đ2 và bà T xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện vào năm 2010. Năm 2014, ông Đ3 và bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hồ T1 đối với thửa đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bằng giấy tay và xây dựng nhà trên đất cùng thời điểm nêu trên. Việc này được chứng minh qua tài liệu bà T cung cấp là “Giấy sang nhượng quyền sử dụng đất” ngày 18/11/2006 (bút lục số 73); ông Đ2 có thừa nhận chứng cứ này nhưng cho rằng ông mua đất vào năm 2006, là tài sản riêng trước hôn nhân với bà T. Tuy nhiên, các thông tin trên “Giấy sang nhượng quyền sử dụng đất” ngày 18/11/2006 ghi thông tin bên nhận chuyển nhượng (bên B) là ông Phan Hữu Đ tuổi 30, vợ Hoàng Thị T tuổi 27 là hoàn toàn trùng khớp với thời điểm mua đất vào năm 2014. Việc vì sao có tên bà T cùng mua đất và vì sao mua năm 2006 nhưng tuổi của ông Đ, bà T lại có sự mâu thuẫn thì ông Đ không lý giải được và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định nhà đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông Đ và bà T.

Vào ngày 03/01/2022, ông Đ và bà T cùng chuyển nhượng tài sản nhà đất nêu trên cho ông Nguyễn Thành N1 với giá 1.450.000.000 đồng. Bà T có cung cấp các tài liệu: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bút lục 76), Biên bản giao nhận tiền (bút lục 81) và Hợp đồng ủy quyền (bút lục 80) thể hiện ông Đ và bà T đều cùng tham gia để thực hiện giao dịch với ông Nguyễn Thành N1. Như vậy, tại thời điểm đó ông Đ đã biết và xác định rằng đây là tài sản chung vợ chồng. Quá trình làm việc và tại phiên tòa, ông Đ xác nhận đã quản lý và sử dụng số tiền 1.450.000.000 đồng có được từ việc bán nhà đất nêu trên. Vì vậy, bà T yêu cầu buộc ông Đ phải giao lại cho bà ½ số tiền có được từ việc bán nhà đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ chấp nhận.

2.4. Về nợ chung: Ông Đinh và bà T xác định không có nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn ông Phan Hữu Đ và bị đơn Hoàng Thị T phải

chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 33, 38, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phan Hữu Đ và bà Hoàng Thị T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Phan Hoàng P, sinh ngày 26/9/2010; Phan Kim N, sinh ngày 13/12/2014 cho ông Phan Hữu Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Giao cháu Phan Nhật M, sinh ngày 02/12/2017 cho bà Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời không ai cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Sau khi ly hôn, ông Đ và bà T vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông Đ và bà T có quyền thăm nom con chung; không ai được cản trở thực hiện quyền này. Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về tài sản chung:

Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bà Hoàng Thị T đối với yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn.

Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Hoàng Thị T đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông Đ và bà T là chia đôi số tiền bán nhà và đất tại địa chỉ tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai với giá trị 1.450.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Buộc ông Phan Hữu Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Hoàng Thị T số tiền 725.000.000 đồng (bảy trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hết các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo

quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  1. Về nợ chung: Ông Phan Hữu Đ và bà Hoàng Thị T xác định không có nên không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Phan Hữu Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng) án phí chia tài sản chung. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004843 ngày 09/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ông Đ còn phải nộp 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng).

Bà Hoàng Thị T phải nộp 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng) án phí chia tài sản chung. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 22.875.000 đồng (hai mươi hai triệu tám trăm bảy lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007558 ngày 05/5/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà T còn phải nộp 10.125.000 đồng (mười triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

  1. Quyền kháng cáo: Ông Phan Hữu Đ, bà Hoàng Thị T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường (xã) nơi ĐKKH;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 364/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung

  • Số bản án: 364/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger