Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 364/2024/HS-PT

Ngày: 08 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương

Các Thẩm phán: Ông Trần nam Phương

Ông Trần Vĩnh Yên.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 128/2024/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985 tại Đồng Nai.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Nhân viên y tế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947 (đã chết); Có chồng là Đỗ Hoàng N, sinh năm 1984, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh số 1597/2023/TA-LCĐKNCT ngày 30/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Ngoài ra, vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không có triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Nguyễn Thị Thanh T là nhân viên của Trạm Y tế phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp là Dân số viên hạng IV và xếp lương viên chức theo Quyết định số: 64/QD-TTYT ngày 14/12/2016 của Trung tâm y tế thành phố B. Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021, T được phân công nhiệm vụ test Covid cộng đồng, phân loại sàng lọc FO- F1, điều tra truy vết và trợ giúp tổ tiêm vaccine phòng Covid-19 (vaccine C) của phường H. Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2021 đến ngày 15/9/2021, lợi dụng chức vụ, quyền hạn nêu trên, thông qua bà Hoàng Thị Lan A (sinh năm 1977; ngụ tại: K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là bạn bè quen biết, T đã nhiều lần hướng dẫn khai báo gian dối, làm thủ tục và đưa 24 người đang cư trú trên địa bàn các phường T, Q, T, T và B của thành phố B đến các điểm tiêm vaccine Covid-19 của phường H để tiêm vaccine Covid-19 không đúng đối tượng (theo quy định số vaccine này chỉ được tiêm cho đối tượng là người dân từ đủ 18 tuổi và đang cư trú trên địa bàn phường H), cụ thể:

- Lần thứ nhất: Vào ngày 23/8/2021, thông qua mạng xã hội Zalo bà Lan A biết T có đăng thông tin vào ngày 24/8/2021 tại Trạm y tế phường Hóa An sẽ tổ chức tiêm vaccine Covid-19 loại vaccine Astra Zeneca nên bà Lan A đã điện thoại nhờ T giúp tiêm vaccine Covid-19 cho người thân của Lan A đang ở tại phường B và phường Q, thành phố B thì T đồng ý. Sau đó, theo hướng dẫn của T, vào sáng ngày 24/8/2021 bà Lan A dẫn 06 người gồm: ông Phùng Minh D (sinh năm 1977, ngụ tại địa chỉ K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là chồng bà Lan A; ông Đỗ Tiến D1 (sinh năm 1967, ngụ tại Đ, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là anh rể của bà Lan A; bà Phùng Minh L1 (sinh năm 1975, ngụ tại địa chỉ K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chị chồng của bà Lan A; bà Lê Thị Bích L2 (sinh năm 1962, ngụ tại địa chỉ số H N, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là người giúp việc nhà cho mẹ bà Lan A và chị Thân Nam P (sinh năm 2001, ngụ tại địa chỉ: K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là cháu của bà Lan A, đi đến điểm tiêm vaccine Covid-19 tại Đình Thần H gặp T thì được T hướng dẫn khai báo gian dối đang cư ngụ trên địa bàn phường H và làm thủ tục, sau đó được tiêm vaccine Covid-19 loại Astra Zeneca (mũi 1). Sau khi những người trên được tiêm vaccine Covid-19 xong, bà Lan A để số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) vào trong hộp thuốc và cho T. Vào chiều cùng ngày bà Lan A tiếp tục đi đến Trạm y tế phường H đưa cho T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) được để trong vỏ hộp dầu gió.

- Lần thứ hai: Vào ngày 26/8/2021, bà Lan A tiếp tục nhờ T đưa 03 người gồm: bà Hoàng Sỹ C (sinh năm 1964) là cô của bà Lan A và chị Nguyễn Danh T1 (sinh năm 2001) là em của bà Lan A, cùng ngụ tại địa chỉ số C đường P, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và bà Phạm Thị Ngọc H (sinh năm 1978, ngụ tại địa chỉ khu phố A, đường B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là họ hàng bên thông gia của bà Lan A) đi đến điểm tiêm vaccine tại Trạm y tế phường H. Tại đây, T hướng dẫn, làm thủ tục và tiêm vaccine Covid-19 loại Astra Zeneca (mũi 1).

- Lần thứ ba: Qua giới thiệu của bà Lan A nên vào tối ngày 29/8/2021, bà Phạm Thị S (sinh năm 1983) cùng với ông Đào Duy T2 (sinh năm 1977) là chồng của bà S và chị Đào Thị Hải G (sinh năm 2002) là con của bà S, đều ngụ tại địa chỉ K đường B, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đi đến điểm tiêm tại Trạm y tế phường H gặp T thì được T hướng dẫn và làm thủ tục cho bà S, ông T2 và chị G tiêm vaccine Covid-19 loại Astra Zeneca (mũi 1). Sau khi tiêm xong, bà S dùng điện thoại chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) vào số tài khoản 050111209356 tại Ngân hàng S2 của bà Lan A, sau đó bà Lan A đã đưa số tiền trên cho T bằng cách bỏ vào trong cốp xe của T.

- Lần thứ tư: Vào ngày 30/8/2021, bà Lan A tiếp tục dẫn 03 người gồm: anh Phạm Văn C1 (sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình) và anh Đinh Văn L3 (sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú tại đội D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định), đều là nhân viên của ông Tạ Gia T3 (là anh họ của bà S) và ông Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1974, ngụ tại Đ, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là người quen của ông T3 đến nhờ T hướng dẫn làm thủ tục, tiêm vaccine Covid-19 loại Astra Zeneca (mũi 1). Sau khi tiêm xong, bà S dùng điện thoại chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) vào số tài khoản trên của bà Lan A, sau đó bà Lan A đã đưa số tiền trên cho T bằng cách cuộn vào trong tờ giấy và để vào trong túi áo của T.

- Lần thứ năm: Sau khi tiêm được vaccine cho những người trên, ông T3 liên hệ trực tiếp với bà Lan A nhờ tiêm vaccine Covid-19 cho em họ của T3Bùi Văn T4 (sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình), ngụ tại khu phố V, xã P, thành phố B và nhân viên của T3Nguyễn Thị D2 (sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú tại phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An), ngụ tại số A đường P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì được bà Lan A đồng ý và liên hệ nhờ T tiêm vaccine cho 02 người trên, cùng với ông Phạm Minh K2 (sinh năm 1965, ngụ tại địa chỉ F, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chú họ của bà Lan A thì được T đồng ý. Sau đó, vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/9/2021 tại Trạm y tế phường H, T đã hướng dẫn, làm thủ tục và tiêm vacxin loại Astra Zeneca (mũi 1). Sau khi tiêm xong, bà S đã chuyển vào số tài khoản trên cho bà Lan A số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), sau đó bà Lan A đưa tiền mặt cho T số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng), còn lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) bà Lan A đã dùng mua 01 bộ D3 gối cho T.

- Lần thứ sáu: Sau khi được T cho tiêm vaccine trái tuyến, ông K1 liên hệ trực tiếp nhờ bà Lan A giúp để tiêm vacxin cho 04 người thân gồm: bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1979) là vợ của ông K1; chị Nguyễn Thị Bích P1 (sinh năm 2000) và chị Nguyễn Thị Thanh P2 (sinh năm 2003), đều là con của ông K1 và anh Nguyễn Phúc T5 (sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú tại xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình) là con rể của ông K1, đều ngụ tại địa chỉ số A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì được bà Lan A đồng ý và liên hệ nhờ T. Sau đó, đến khoảng 13 giờ ngày 04/9/2021 bà Lan A đã dẫn 04 người trên đi đến điểm tiêm tại Trạm y tế phường H gặp T làm thủ tục và tiêm vacxin loại Astra Zeneca (mũi 1). Sau khi tiêm xong, anh T5 đã chuyển vào số tài khoản trên của bà Lan A số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Bà Lan A đã đưa số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho T bằng cách bỏ vào túi áo của T. Còn lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) bà Lan A dùng để mua gà cho T.

- Lần thứ bảy: Do có quen biết với bà Lan A nên bà Ngô Thị Hồng H2 (sinh năm 1983, ngụ tại địa chỉ K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) có nhờ bà Lan A xin được tiêm loại vaccine tốt cho 03 người thân gồm: ông Phan Thanh S1 (sinh năm 1963) là anh chồng của bà H2 và các con của ông S1 là chị Phan Thị Ngọc Q (sinh năm 1996) và chị Phan Thị Như T6 (sinh năm 2000), cùng ngụ tại K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì được bà Lan A đồng ý giúp và liên hệ nhờ T. Sau đó, vào khoảng 17 giờ ngày 15/9/2021 bà H2 dẫn 03 người trên đến điểm tiêm tại Trạm y tế phường H gặp T để tiêm vaccine Covid-19 loại Pfizer (mũi 2). Tuy nhiên, do chỉ còn 02 liều vacxin Pfizer (mũi 2) nên T hướng dẫn và cho các cháu QT6 tiêm trước. Đến ngày 16/9/2021, T tiếp tục hướng dẫn và tiêm vaccine loại Pfizer (mũi 2) cho ông S1. Sau khi tiêm vaccine xong, bà Lan A cho bà H2 số tài khoản của T, để chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) vào số tài khoản 0071002440593 Ngân hàng V của T. Sau đó, bà H2 tiếp tục chuyển thêm số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho T và cho bà Lan A số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Đến ngày 28/9/2021, T đã bị người dân phát hiện, trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Qua điều tra, ngày 09/3/2023 T đã bị khởi tố, xử lý.

* Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr (số imei: 353071100650807) có gắn sim số 0909.510.997, tạm giữ của bị can T, là phương tiện đã sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus (số imei: 354379063947626) có gắn sim số 0785220577, tạm giữ của bà Hoàng Thị Lan A, liên quan trực tiếp trong hành vi phạm tội.

- Số tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm nghìn đồng), hưởng lợi bất chính trong vụ án, bị cáo T đã trả lại cho bà Hoàng Thị Lan A và bà Ngô Thị Hồng H2. Quá trình điều tra, bà Lan A và bà H2 đã nộp lại số tiền trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

* Về dân sự:

Bị hại là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu bồi thường.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 128/2024/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, đã quyết định như sau:

- Căn cứ khoản 1 Điều 356, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 01 (một năm) 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án phạt tù.

- Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Ngày 26/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Lý do: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, hình phạt tù giam là quá nặng vì bị cáo không có tiền án, tiền sự, tham gia chống dịch đã có nhiều thành tích xuất sắc được các cấp thi đua khen thưởng, tự nguyện khắc phục hậu quả và giao nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, gia đình có công với cách mạng và gia đình rất khó khăn, hai con còn nhỏ.

4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy cấp sơ thẩm giải quyết là có cơ sở. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” là không đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tình tiết này. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét và bị cáo phạm vào tội theo quy định tại Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Về mức hình phạt bản án sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng như kháng cáo của bị cáo đã nêu, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với mô tả và nhận định trong bản án của cấp sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T là nhân viên của Trạm y tế phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp là Dân số viên hạng IV. Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021, bị cáo T được phân công nhiệm vụ

test Covid cộng đồng, phân loại sàng lọc Fo-F1, điều tra truy vết và trợ giúp tổ tiêm vaccine phòng Covid-19 của phường H. Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2021 đến ngày 15/9/2021, bị cáo T đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ, nhiều lần hướng dẫn khai báo gian dối và làm thủ tục cho 24 người tiêm vaccine Covid-19 trên địa bàn phường H không đúng đối tượng, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cụ thể: Đã 07 lần thực hiện tiêm không đúng đối tượng tổng số 21 liều vaccine Covid-19 loại Astra Zeneca (mũi 1) cho ông Phùng Minh D, ông Đỗ Tiến D1, bà Phùng Minh L1, bà Lê Thị Bích L2, chị Thân Nam P, bà Hoàng Sỹ C, bà Phạm Thị Ngọc H, chị Nguyễn Danh T1, bà Phạm Thị S, ông Đào Duy T2, chị Đào Thị Hải G, anh Phạm Văn C1, anh Đinh Văn L3, ông Nguyễn Văn K1, ông Bùi Văn T4, bà Nguyễn Thị D2, ông Phạm Minh K2, bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Bích P1, chị Nguyễn Thị Thanh P2, anh Nguyễn Phúc T5 và thực hiện tiêm không đúng đối tượng 03 liều vaccine Covid-19 loại Pfizer (mũi 2) cho ông Phan Thanh S1, chị Phan Thị Ngọc Q và chị Phan Thị Như T6. T lợi bất chính tổng số tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Như vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 356 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án tiền sự, đã tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Về xét kháng cáo:

Bản án sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên là không đúng với quy định của pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo bị truy tố, xét xử đối với tổng số tiền các lần thu lợi bất chính là 15.500.000 đồng là đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, mỗi lần thu lợi bất chính đều không bằng hoặc hơn 10.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 4, khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số: 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 30/12/2020 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm về tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ thì hành vi của bị cáo không phạm tội 02 lần trở lên. Do cấp sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng nên dẫn đến khi lượng hình, xem xét áp dụng mức hình phạt cao đối với bị cáo là chưa phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tài liệu chứng minh là đã tham gia chống dịch có nhiều thành tích xuất sắc được các cấp thi đua khen thưởng, tự

nguyện khắc phục hậu quả và giao nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, gia đình có công với Cách mạng và gia đình rất khó khăn, hai con còn nhỏ.

Từ những phân tích trên, xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng và đúng quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Xét quan điểm của đại diện của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có phần phù hợp nên chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 128/2024/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

1. Quyết định hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 356, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 08 (tám) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân TP. Biên Hoà (2);
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an TP. Biên Hoà;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP. Biên Hoà
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hoà;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thế Phương

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng, Tòa Hình sự,

Thẩm phán (4).

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 364/2024/HS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ)

  • Số bản án: 364/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đưa ra cơ sở cấp sơ thẩm xác định tình tiết tăng nặng không đúng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger