|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 364/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/9/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mai Khanh, ông Trần Xuân Thành
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên
Ngày 10/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 333/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1993
Địa chỉ: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1994
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Malaysia. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/01/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày: Anh Nguyễn Văn P và chị Trần Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/6/2014 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống thật sự không hạnh phúc. Năm đầu tiên, vợ chồng sống cùng cha mẹ đẻ của anh P tại xã N, năm sau thì vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn. Năm 2018, chị Trần Thị H đi lao động tại Ma Cao (Trung Quốc) và đến năm 2022 thì anh P gửi tiền sang chuộc chị H về do chị H ham mê cờ bạc, nợ nần nên không về nước được. Sau khi chị H về nước, anh P lại đi sang Campuchia làm việc, sau 3-4 tháng gửi tiền cho chị H thì chị H ôm tiền bỏ nhà đi 2 tháng rồi mới về nhà cha mẹ của anh P ở N lấy áo quần. Lúc đó gia đình anh P yêu cầu chị H phải làm giấy tờ cam đoan. Từ đó đến nay chị H và anh P không còn liên lạc với nhau nữa. Từ tháng 01/2023, anh P về nước. Anh P thấy tình cảm với chị H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn với chị Trần Thị H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Văn Triệu H1, sinh ngày 28/4/2014, hiện cháu đang ở với anh Nguyễn Văn P. Ly hôn, anh Nguyễn Văn P có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn chị Trần Thị H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu chị Trần Thị H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho chị Trần Thị H thông qua anh Trần Văn T và chị Phan Thị T1 là anh trai và chị dâu của chị Trần Thị H; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của chị H nhưng hiện tại chị Trần Thị H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Cháu Nguyễn Văn Triệu H1 trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn văn P và mẹ Trần Thị H. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu là được ở với bố Nguyễn Văn P.
Tại Bản tự khai ngày 18/7/2024, chị Phan Thị T1 là chị dâu của chị Trần Thị H trình bày: Chị là vợ của anh Trần Văn T anh trai của chị Trần Thị H. Bố mẹ của chị H là ông Trần Văn T2 và bà Hoàng thị T3 đều đã chết, anh Trần Văn T chồng chị đang đi làm việc tại Hải Phòng. Chị H hiện nay đang làm việc ở nước ngoài và có liên lạc về với vợ chồng chị qua mạng xã hội nhưng gia đình không biết địa chỉ của chị H ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Gia đình chị T2 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc ly hôn của anh P và chị H và đã thông báo cho chị H biết nhưng chị H không có ý kiến gì nên chị cũng không có thông tin gì để cung cấp cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu thân nhân của chị H cung cấp địa chỉ của chị H ở nước ngoài cho Tòa án. Thông qua lời khai của chị Trần Thị T4 (chị dâu của chị Trần Thị H) có căn cứ xác định bị đơn chị Trần Thị Hồng H2 đang ở nước ngoài và vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình, chị H đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của anh P nhưng chị H vẫn không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Trần Thị H. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Văn Triệu H1 cho anh Nguyễn Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Văn P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Anh Nguyễn Văn P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 19045/QLXNC-P5 ngày 26/7/2023 của Cục Q Bộ C và lời trình bày của chị Phan Thị T1 là chị dâu của chị Trần Thị H thì có căn cứ xác định hiện nay chị Trần Thị H đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của chị Trần Thị H cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị H cho Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn P có cung cấp địa chỉ ở nước ngoài của chị H cho Tòa án nhưng anh P không cung cấp được giấy tờ chứng minh địa chỉ nơi cư trú của chị H là có căn cứ nên không có cơ sở để ủy thác tư pháp. Do đó, việc chị Trần Thị H vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Trần Thị H đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; anh Nguyễn Văn P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P và chị Trần Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình nhà chồng tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, cuộc sống chung không thực sự hạnh phúc. Nay, anh P thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh P được ly hôn với chị H. Tòa án đã thông báo cho chị H biết việc anh P xin ly hôn với chị H thông qua anh Trần Văn T và chị Phan Thị T1 là anh trai và chị dâu của chị H nhưng chị H cũng không có ý kiến, không liên lạc với Tòa án thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Do đó, xét thấy, hôn nhân của anh P, chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Trần Thị H.
[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Văn Triệu H1, sinh ngày 28/4/2014, hiện cháu đang ở anh Nguyễn Văn P. Ly hôn, anh P có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Văn Triệu H1 có nguyện vọng được sống với bố. Xét thấy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì quyền và nghĩa vụ nuôi con thuộc về cha mẹ. Chị Trần Thị Hồng H2 đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Triệu H1. Anh P, cháu H1 đều đang sinh sống tại Việt Nam. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt ổn định cho cháu Nguyễn Văn Triệu H1, cần giao cháu cho anh Nguyễn Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Trần Thị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay chị Trần Thị H chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 37, 147, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn với chị Trần Thị H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Triệu H1, sinh ngày 28/4/2014 cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Trần Thị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn P chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002321 ngày 05/7/2023. Anh Nguyễn Văn P đã nộp đủ án phí.
5. Anh Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Chị Trần Thị H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Mai Khanh Trần Xuân Thành |
Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 364/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 364/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Nguyễn Văn P - Trần Thị P
