TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 364/2024/HC-PT
Ngày: 07 - 5 - 2024
V/v Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý Nhà
nước về đất đai.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Nhựt Bình |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 869/2023/TLPT-HC ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 682/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trương Văn B, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: số D đường L, Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
Luật sư Phan Thị Đoan T – Công ty L1 (có mặt)
Địa chỉ: C N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư Nguyễn Đức N – Công ty L1 (có mặt)
Địa chỉ: C N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, đường C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S (vắng mặt)
Địa chỉ: Số I, đường P, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện là ông Trương Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/4/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện ông Trương Văn B trình bày:
Ông Trương Văn B là người kế thừa của mẹ ruột ông là bà Trần Thị L trong việc khiếu nại đền bù giải tỏa căn nhà số C đường L (số mới 423) theo quy định của pháp luật. Bà Trần Thị L có 02 phần đất (bao gồm 04 căn nhà ở, tường vây) gồm một phần diện tích khoảng 270m² và một phần khoảng 180m² được tạo lập từ trước năm 1975, tại địa chỉ cũ C đường L, khóm E, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Năm 1996 và năm 2001 nhà nước thu hồi đất để mở rộng đường L, Phường C, thị xã S (nay là thành phố S). Gia đình ông B bị giải tỏa 02 căn nhà chính và 01 căn nhà phụ, thu hồi diện tích 270m² đất của bà Trần Thị L. Ngoài ra, ông B cũng bị thu hồi 90m² đất.
Ngày 25/12/2001 Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành quyết định số 1659/QĐ.HC.01, về việc phê duyệt phương án giải tỏa đền bù và khu tái định cư.
Ngày 17/7/2002 Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Quyết định số 833/QĐ.HC.02, về việc điều chỉnh dự toán đền bù giải phóng mặt bằng gia đình ông B nhận được số tiền đền bù là 113.154.300 đồng.
Đến ngày 08/11/2006, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ra Công văn số 119/CTUBND-KN về việc giao đất ở cho bà Trần Thị L, một nền thổ cư diện tích 150m² đến 200m² ở đường V, giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Ngày 12/01/2009 Phòng tài nguyên – Môi trường thành phố có tờ trình số 09/TTr.TN-MT, giao 150m² đất cho bà Trần Thị L có thu tiền sử dụng đất, thuộc thửa số 295, tờ bản đồ số 34, đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S. Bà Trần Thị L không đồng ý nên khiếu nại.
Ngày 27/4/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Công văn số 76/CTUBND-KN gửi Chủ Tịch UBND thành phố S xem xét cấp cho bà Trần Thị L một nền đất thổ cư diện tích 150m², còn thiếu 50m². (Bà L yêu cầu cấp đất tái định cư 200m², không thu tiền sử dụng đất).
Ngày 19/5/2009 phòng T1 có báo cáo số 108/BC.TN- MT, đề nghị Chủ Tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định giao đất 150m² đất cho bà Trần Thị L.
Ngày 16/7/2009 UBND thành phố S ban hành quyết định số 532/QĐNÐ-UBTP, về việc giao 150m² đất ở cho hộ bà Trần Thị L. Ngày 25/11/2009 bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 119849, sau đó bà L cho ông B được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận QSDĐ số BA 475189.
Ngày 11/12/2014 bà Trần Thị L có đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân thành phố S, đồng thời đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố S cấp thêm 50m² đất còn thiếu cho bà Trần Thị L.
Ngày 14/7/2015 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S ra Quyết định (lần đầu) số 17/QĐKN-CTUBND bác đơn khiếu nại của bà Trần Thị L yêu cầu cấp thêm 50m² đất.
Ngày 20/02/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ra quyết định (lần 2) số 328/QĐ-UBND bác khiếu nại của ông B và giữ nguyên Quyết định số 17/QĐKN-CTUBND.
Do gia đình ông nhận thấy việc nhà nước chỉ cấp 150m² đất là chưa đảm bảo quyền lợi đối với gia đình ông nên ông đã nhiều lần kiến nghị đến các cơ quan chức năng tỉnh Sóc Trăng xem xét cấp thêm 50m² đất ở không thu tiền sử dụng đất hoặc trả tiền có giá trị tương đương. Tuy nhiên, đến nay vụ việc vẫn chưa được xem xét giải quyết. Ông B cho rằng việc Ủy ban nhân dân thành phố S chỉ cấp cho bà L 150m² đất, thiếu 50m² đất, đồng thời Quyết định số 328/QĐ-CTUBND có nội dung không đúng quy định pháp luật đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình gia đình ông. Vì vậy, ông Trương Văn B yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Tuyên hủy Quyết định số 328/QĐ-UBND ngày 20/02/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S về việc giải quyết khiếu nại của ông Trương Văn B yêu cầu cấp thêm 50m² đất tái định cư.
- - Tuyên hủy quyết định số 17/QĐKN-CTUBND ngày 14/7/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố S về việc khiếu nại của bà Trần Thị L và Công văn số 143/CTUBND-KN ngày 09/12/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S về việc ông khiếu nại yêu cầu cấp thêm 50m² đất tái định cư cho bà Trần Thị L theo Công văn 1862 ngày 15/11/2016 và di chúc của bà Trần Thị L là mẹ ông.
Tại Văn bản số 1786/UBND-NC ngày 11/7/2023, người đại diện hợp pháp của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S trình bày:
Trước năm 1975, bà Trần Thị 1 có sử dụng phần đất có diện tích 149,66m² tọa lạc tại đường L, Khóm E, phường C, thị xã S (nay là thành phố S). Ngày 25/12/2001 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S đã ban hành quyết định 1659/QĐ-HC.01 phê duyện phương án và dự toán kinh phí đền bù, hỗ trợ di dời giải phóng mặt bằng thi công công trình đường L thị xã S trong đó hộ bà Trần Thị L bị anh hưởng 124,5m² đường bồi thường số tiền 97.636.400 đồng (trong đó đất 22.035.200 đồng, nhà 71.601.200 đồng và hổ trợ khác 4.000.000 đồng)
Ngày 17/7/2002, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành quyết định số 833/QĐ.HC.02 điều chỉnh dự án đền bù để giải phóng mặt bằng thi công công trình đường L thị xã S thì hộ bà Trần Thị L được được bồi thường bổ sung về nhà là 15.517.900 đồng. Như vậy, tổng số tiền bà Trần Thị L đã nhận qua ha lần đền bù hỗ trợ là 113.154.300 đồng và bà Trần Thị L đã nhận đủ tiền.
Ngày 27/4/2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S đã ban hành công văn số 76/CTUBND-KN chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố S xem xét, ban hành quyết định cấp cho bà Trần Thị L một nên thổ cư có diện tích 150m², tọa lạc tại đường L, thành phố S từ Quỹ đất của Ban quản lý Dự án các công trình xây dựng tỉnh chuyển giao. Giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Ngày 16/7/2009, Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành quyết định số 532/QĐND-UBTP giao cho hộ bà Trần Thị L với diệ tích 150m², mục đích sử dụng đất đô thị, thuộc thửa 295, tờ bản đồ số 34, tọa lạc đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S và bà Trần Thị L đã cho ông Trương văn B1 phần đất trên. Ông B1 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/01/2010. Ngày 17/01/2011 Ủy ba nhân dân thành phố S đã ban hành quyết định số 75/QĐNĐ-UBND thu hồi diện tích 150m² này của ông Trương văn B1 giao cho nhà nước quản lý. Đồng thời, giao diện tích 150m², thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 33, loại đất ODT, tọa lạc tại đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S cho ông Trương Văn B (hoán đổi đất theo yêu cầu của ông B) và phần đất này ông Trương Văn B đã chuyển nhượng phần đất cho ông Phạm Minh H sử dụng vào ngày 15/3/2011.
Bà Trần Thị L có đơn gửi Ủy ban nhân dân thành phố S yêu cầu cấp thêm cho bà 50m² đất thổ cư. Ngày 09/12/2014 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S có ban hành Công văn 423/CTUBND-KN trả lời về việc bà Trần Thị L yêu cầu cấp 150m² đết là không có cơ sở để giải quyết.
Ngày 16/3/2017 bà Trần Thị 1 đã lập di chúc thống nhất toàn bộ giá trị phần quyền sử dụng đất trong việc khiếu nại quyền giải tỏa, đền bù nhà và đất số 373 (số mới 423) đường L giao cho ông Trương Văn B toàn quyền định đoạt theo quy định của pháp luật (bà L chết ngày 07/7/2017).
Với kết quả xác minh của cơ quan chức năng và hồ sơ hiện có, nhận thấy: Nội dung giải quyết khiếu nại theo quyết định số 17/QĐKN-CTUBND ngày 17/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S về giải quyết khiếu nại (Lần đầu) là đúng. Ngày 20/2/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành quyết định số 328/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Trương Văn B là phù hợp với các tình tiết có trong hồ sơ và đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, việc ông Trương Văn B khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định 328/QĐ-UBND ngày 20/2/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S là không có cơ sở đề nghị Tòa án xem xét không chấp thuận.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S không có ý kiến trình bày.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Trương Văn B về việc hủy Công văn 143/CTUBND-KN ngày 09/12/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S; Quyết định số 17/QĐKN-CTUBND ngày 14/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S về việc khiếu nại của bà Trần Thị L (lần đầu) và hủy Quyết định số 328/QĐ-UBND ngày 20/02/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S về việc giải quyết khiếu nại của ông Trương Văn B (lần hai).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2023 người khởi kiện là ông Trương Văn B kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện là ông Trương Văn B vẫn giữ kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo sửa bản án hành chính sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B. Theo công văn 119 của Chủ tịch UBND tỉnh S giải quyết cho bà L đã được đền bù tái định cư 200m² nhưng diện tích đất tái định cư chỉ có 150m², còn thiếu 50m², đất tái định cư này chưa tương xứng với giá trị diện tích đất bị thu hồi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là Luật sư Phan Thị Đoan T và Luật sư Nguyễn Đức N thống nhất phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông B do thời điểm mỏ rộng đường Lê Hồng P vào năm 2001, Luật Đất Đai 1993 và Nghị định 22/1998/NĐ-CP đang có hiệu lực thi hành, theo đó ông B phải được tái định cư. Về nguyên tắc thu hồi đất phải đo đạc, kiểm đếm nhưng Ủy ban không thực hiện, dẫn tới chưa biết thu hồi của ông B bao nhiêu mét vuông nên việc cấp đất không chính xác. Khi cấp lại đất cho ông B thì Ủy ban lại cấp không đủ hạn mức đất ở tại địa phương. Năm 2016, UBND thành phố S có văn bản số 1862 xin ý kiến của Ủy ban tỉnh chỉ đạo để chấm dứt khiếu nại nhưng cũng không có ý kiến phản hồi mà sau đó ra văn bản ấn định cấp diện tích 150m² cho ông B là chưa đảm bảo quyền lợi cho người khởi kiện.
Người bị kiện và người có quyền lợi, liên quan vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của ông B là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông B kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tòa án triệu tập hợp lệ, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt. Căn cứ vào Điều 225 Luật tố tụng hành chính Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.
[2] Năm 2001, Nhà nước có chủ trương thực hiện dự án mở rộng đường L, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sóc Trăng. Ngày 25/12/2001, Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 1659/QĐ.HC.01 về phê duyệt phương án và dự toán kinh phí đền bù, hỗ trợ di dời giải phóng mặt bằng thi công công trình đường L, thị xã S, tỉnh Sóc Trăng. Theo Quyết định số 1659/QĐ.HC.01 ngày 25/12/2001, có 182 hộ có đất bị ảnh hưởng, trong đó hộ bà Trần Thị L có diện tích đất bị ảnh hưởng là 68,86m², diện tích nhà 124,5m² và tổng số tiền bà L được nhận đề bù, hỗ trợ là 97.636.400 đồng.
[3] Ngày 17/7/2002, Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 833/QĐ.HC.02 về việc điều chỉnh dự toán đền bù để giải phóng mặt bằng thi công công trình đường L, thị xã S, tỉnh Sóc Trăng, kèm theo Dự toán đền bù, hỗ trợ di dời công trình đường L. Theo Quyết định số 833/QĐ.HC.02 có 12 hộ được nhận đền bù, hỗ trợ bổ sung, trong đó hộ bà L được đền bù, hỗ trợ thêm số tiền 15.517.900 đồng. Tổng số tiền đền bù, hỗ trợ của hộ bà L qua hai lần là 113.154.300 đồng.
[4] Ngày 27/4/2009 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Công văn số 76/CTUBND-KN chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố S xem xét, ban hành quyết định cấp cho bà Trần Thị L một nền thổ cư có diện tích 150m², tọa lạc tại đường L, thành phố S từ Quỹ đất của Ban quản lý Dự án các công trình xây dựng tỉnh chuyển giao. Giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Ngày 16/7/2009 Ủy ban nhân dân thành phố S ban hành quyết định số 532/QĐND-UBTP giao cho hộ bà Trần Thị L với diện tích 150m², mục đích sử dụng đất đô thị, thuộc thửa 295, tờ bản đồ số 34, tọa lạc đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S, và bà Trần Thị L đã cho ông Trương Văn B phần đất trên. Ông B được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/01/2010.
Ngày 17/01/2011 Ủy ban nhân dân thành phố S đã ban hành quyết định số 75/QĐND-UBND thu hồi diện tích 150m² này của ông Trương Văn B giao cho nhà nước quản lý. Đồng thời, giao diện tích 150m², thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 33, loại đất ODT, tọa lạc tại đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S cho ông Trương Văn B (hoán đổi đất theo yêu cầu của ông B) và phần đất này ông Trương Văn B đã chuyển nhượng phần đất cho ông Phạm Minh H sử dụng vào ngày 15/3/2011.
[5] Ông B cho rằng: Ngày 08/11/2006, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S có ra công văn 119/CTUBND-KN (BL17) về việc giao đất ở cho bà Trần Thị L một nền thổ cư có diện tích 150m² đến 200m² ở đường V, giao đất không thu tiền sử sụng đất nhưng Ủy ban nhân dân thành phố S chỉ cấp cho mẹ ông 150m² đất tái định cư là chưa đảm bảo quyền lợi của bà Trần Thị L nên đã nhiều lần khiếu nại yêu cầu cấp thêm 50m² đất nhưng Ủy ban nhân dân thành phố S không chấp nhận.
Xét thấy, ngày 27/8/2013, bà L có làm đơn yêu cầu gửi đến UBND tỉnh S và UBND thành phố S để yêu cầu cấp nền tái định cư bà L (đơn do bà L đứng tên). Ngày 27/8/2013 bà L làm đơn khiếu nại đến hai cơ quan này yêu cầu cấp thêm 120m² không thu tiền sử dụng đất (đơn do ông và bà L đứng tên). Việc giải quyết khiếu nại về tái định cư của bà L đã được UBND thành phố S xem xét giao 150m² đất tại thửa 295, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S, với hình thức không thu tiền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị L theo Quyết định số 532/QĐ-UBTP ngày 16/7/2009. Như vậy, việc thu hồi, bồi thường, tái định cư của Ủy ban nhân dân thành phố S đối với bà Trần Thị L là đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Chủ tịch UBND thành phố S lần lượt ban hành các công văn và quyết định giải quyết khiếu nại: Công văn số 143/CTUBND - KN ngày 09/12/2014 và Quyết định số 17/QĐKN-CTUBND ngày 14/7/2015 có nội dung bác khiếu nại của bà L là có căn cứ.
[6] Sau khi bà L chết, ông B tiếp tục khiếu nại đối với Quyết định số 17/QĐKN-CTUBND ngày 14/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S. Ngày 20/02/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S ban hành Quyết định số 328/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần 2, bác yêu cầu khiếu nại của ông B là đúng quy định pháp luật.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Người khởi kiện kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do vậy, Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
[9] Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Trương Văn B, sinh năm 1963 là người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
B2 yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là ông Trương Văn B; Giữ nguyên bản án sơ thẩm 11/2023/HC-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Trương Văn B về việc hủy Công văn 143/CTUBND-KN ngày 09/12/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S; Quyết định số 17/QĐKN-CTUBND ngày 14/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S về việc khiếu nại của bà Trần Thị L (lần đầu) và hủy Quyết định số 328/QĐ-UBND ngày 20/02/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S về việc giải quyết khiếu nại của ông Trương Văn B (lần hai).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Trương Văn B được miễn. Hoàn trả cho ông Trương Văn B 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011661 ngày 09/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Nhựt Bình |
Bản án số 364/2024/HC-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai
- Số bản án: 364/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y ÁN SƠ THẨM
