|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 364/2024/DS-PT
Ngày 22/8/2024
“V/v tranh chấp ranh giới bất động
sản liền kề”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Ông Võ Bảo Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 134/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1954; địa chỉ: G ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ; có mặt.
Bị đơn: Ông Lâm Hữu B, sinh năm 1966; địa chỉ: G ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Kim K, sinh năm 1958; vắng mặt
- Bà Bùi Kim H, sinh năm 1981; có mặt
- Bà Bùi Kim T1, sinh năm 1984; vắng mặt
- Bà Bùi Út N (bà Bùi Thị Út M1), sinh năm 1988; vắng mặt
- Ông Bùi Phước H1, sinh năm 1976; vắng mặt
Cùng địa chỉ: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Kim K: Bà Bùi Kim H, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Phước H1, bà Bùi Thị Út M1: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Bùi Văn M.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Theo nguyên đơn – ông Bùi Văn M trình bày: Phần đất của ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02073 cấp ngày 05/5/2014 thửa 869 diện tích 759m². Phần đất của ông giáp ranh với thửa 550 do ông Lâm Hữu B sử dụng, ông B tự ý lấn chiếm qua đất của ông ngang trước khoảng 02m dài khoảng 11m. Ông khởi kiện yêu cầu ông B trả lại phần đất lấn chiếm qua đo đạc diện tích 83,4m².
Bị đơn – ông Lâm Hữu B trình bày: Phần đất của ông đứng tên thửa 550, 552 diện tích 1.200m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00636 cấp ngày 19/4/1995 cho hộ bà Nguyễn Thị M2, cập nhật sang tên ông ngày 06/4/2018. Ông đang sử dụng đất đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, theo ranh đất từ xưa đến nay. Ông không lấn ranh nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Võ Kim K, bà Bùi Kim H, ông Bùi Phước H1, bà Bùi Thị Út M1 trình bày: thống nhất ý kiến của ông M.
Ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: nguồn gốc đất của ông M sử dụng từ trước đến nay ổn định, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó cấp đổi năm 2014, ông M đã trồng cây lâu năm, xây mộ, tặng cho ông H1, bà M1, đo đạc thực tế khi tặng cho đều có ký giáp ranh, không có tranh chấp. Bị đơn cho rằng là hàng xóm nên không ngăn cản xây mộ là không hợp lý. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tháo dỡ hàng rào trả lại phần đất lấn chiếm.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 74/2023/DSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác định ranh giới thửa 549, thửa 869, thửa 929 với thửa 550 như sau: Buộc ông Lâm Hữu B tháo dỡ phần tài sản trên đất để giao phần đất tranh chấp diện tích 83,4m² (tại vị trí A) cho ông Bùi Văn M.
Đất tọa lạc tại ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 1056/TTKTTNMT ngày 18/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Ông Bùi Văn M có nghĩa vụ trả cho ông Lâm Hữu B số tiền 136.850.000 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí đo đạc, thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên xử. Ông Bùi Văn M kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn và đại diện bị đơn đồng ý theo bản trích đo địa chính ngày 06/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Nguyên đơn được sử dụng phần đất tại vị trí A có diện tích 37,8m², loại đất CLN. Diện tích hành lang lộ giới là 5,3m², phần khu mộ nằm trong phần đất tại vị trí A chiều dài cạnh 57,05m và cạnh 41,33m. Chiều dài đầu ngoài 13,14m, chiều ngang là 1m (mặt tiền lộ).
Bị đơn ông Lâm Hữu B được sử dụng phần đất tại vị trí B có diện tích 45,6m². Trong đó có 8,9m² nằm trong hành lang lộ giới, chiều ngang 1,96m dài đến 13,14 thì nhỏ lại do vướng khu mộ, chiều dài cạnh còn lại là 57,52m.
(Theo bản trích địa chính ngày 06/8/2024).
Về chi phí thẩm định cấp sơ thẩm: 8.000.000 đồng. Ông M chịu 6.000.000 đồng. Ông B chịu 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đã trả lại cho nguyên đơn 2.000.000 đồng. Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận các đương sự đã thực hiện xong chi phí này.
Chi phí thẩm định cấp phúc thẩm: Nguyên đơn tự nguyên chịu 3.271.000 đồng, đã chi xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng: Phần đất của ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02073 cấp ngày 05/5/2014 thửa 869 diện tích 759m² giáp ranh với thửa 550 do ông Lâm Hữu B sử dụng, ông B tự ý lấn chiếm qua đất của ông nên ông khởi kiện yêu cầu ông B trả lại phần đất lấn chiếm qua đo đạc diện tích 83,4m². Phía bị đơn cho rằng: Phần đất của bị đơn đứng tên thửa 550, 552 diện tích 1.200m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00636 cấp ngày 19/4/1995 cho hộ bà Nguyễn Thị M2, cập nhật sang tên ông B ngày 06/4/2018. Ông đang sử dụng đất đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, theo ranh đất từ xưa đến nay. Ông không lấn ranh nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Xác định ranh giới thửa 549, thửa 869, thửa 929 với thửa 550 như sau: Buộc ông Lâm Hữu B tháo dỡ phần tài sản trên đất để giao phần đất tranh chấp diện tích 83,4m² (tại vị trí A) cho ông Bùi Văn M.
Đất tọa lạc tại ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 1056/TTKTTNMT ngày 18/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Ông Bùi Văn M có nghĩa vụ trả cho ông Lâm Hữu B 136.850.000 đồng.
Do nguyên đơn yêu cầu đo đạc lại diện tích tranh chấp. Tòa án cấp phúc thẩm và các cơ quan chức năng đo đạc lại diện tích tranh chấp.
Khi công bố bản trích đo địa chính và phân tích của Hội đồng xét xử phúc thẩm, các đương sự đã thống nhất được cách giải quyết là nguyên đơn được sử dụng phần đất tại vị trí A, bị đơn được sử dụng phần đất tại vị trí B. Các đương sự thỏa thuận xong chi phí thẩm định, đo đạc của hai cấp tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm do các đương sự tự thỏa thuận được với nhau. Việc sửa án là khách quan do các đương sự tự thỏa thuận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn M phải chịu nhưng do ông là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ.
[4] Về chi phí thẩm định cấp sơ thẩm: 8.000.000 đồng. Ông M chịu 6.000.000 đồng. Ông B chịu 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đã trả lại cho nguyên đơn 2.000.000 đồng. Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận các đương sự đã thực hiện xong chi phí này.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên không ai phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Công nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:
Nguyên đơn ông Bùi Văn M được sử dụng phần đất tại vị trí A có diện tích 37,8m², loại đất CLN. Diện tích hành lang lộ giới là 5,3m², phần khu mộ nằm trong phần đất tại vị trí A, chiều dài cạnh 57,05m và cạnh 41,33m, chiều dài đầu ngoài vào đến khu mộ là 13,14m, chiều ngang là 1m (mặt tiền lộ).
Bị đơn ông Lâm Hữu B được sử dụng phần đất tại vị trí B có diện tích 45,6m². Trong đó có 8,9m² nằm trong hành lang lộ giới, chiều ngang mặt tiền lộ là 1,96m dài đến ngôi mộ là 13,14 thì nhỏ lại do vướng khu mộ, chiều dài cạnh còn lại là 57,52m.
(Đính kèm bản trích đo địa chính số 518/VPĐKĐĐ ngày 06/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Chi phí thẩm định cấp sơ thẩm: 8.000.000 đồng. Ông M chịu 6.000.000 đồng. Ông B chịu 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đã trả lại cho nguyên đơn 2.000.000 đồng. Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận các đương sự đã thực hiện xong chi phí này.
Chi phí thẩm định cấp phúc thẩm: Nguyên đơn tự nguyên chịu 3.271.000 đồng, đã chi xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn M phải chịu nhưng do ông là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 364/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Số bản án: 364/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chấp QSDĐ đất
