Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 364/2023/HS-ST

Ngày: 16-11–2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lợi.

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long, Thư ký Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 383/2023/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 504/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Xuân Đ (tên thường gọi khác: S), sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Hát dạo; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Xuân A và bà Đỗ Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không. Bị bắt tạm giam ngày 23 tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Hồ Văn H, sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Gia Lai. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Anh Hồ Ngọc H, sinh năm 2003; hộ khẩu thường trú: thôn M, xã N, huyện L, tỉnh Gia Lai. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Đổng Thị O, sinh năm: 1993; hộ khẩu thường trú: E, đường F, KP. B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, bị cáo đi bộ đến quán “Bún Cá Cay Cậu Trạch” tại địa chỉ Ô, đường GS, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy anh Hồ Văn H và anh Hồ Ngọc H là nhân viên của quán đang nằm ngủ trên ghế. Sau đó, bị cáo đi vào quán, nhìn thấy tại quầy tính tiền, có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu xám đang cắm sạc pin. Lúc này, bị cáo lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động rồi cất vào trong túi quần trước bên phải đang mặc. Sau khi lấy trộm điện thoại xong, bị cáo đi bộ về nhà nghỉ S thuộc khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương thuê phòng nghỉ. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, anh H và anh H thức dậy kiểm tra, phát hiện bị mất trộm 02 chiếc điện thoại di động nên anh H xem lại camera của quán thì phát hiện bị cáo đột nhập vào quán lấy trộm 02 chiếc điện thoại, anh H liền bật định vị để tìm kiếm điện thoại, phát hiện chiếc điện thoại di động Iphone XS Max của anh H đang định vị tại nhà nghỉ S, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/07/2023, anh H và anh H đi đến nhà nghỉ S thì nhìn thấy bị cáo đi từ trên lầu xuống tới quầy lễ tân nên đã giữ bị cáo lại và trình báo Công an phường C, thành phố D. Lúc này, bị cáo đang cất giấu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu xám ở trong túi quần bên phải đang mặc trên người bị cáo. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D bắt giữ theo lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo. Quá trình điều tra giải quyết vụ án, anh H xác định điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen là của anh H. Anh H xác định điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu xám là của anh H.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 138/BBĐG-HĐĐGTS ngày 31/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D kết luận trị giá 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu đen là 4.600.000 đồng, trị giá 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S 16Gb, màu xám là 320.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 4.920.000 đồng.

Tang vật thu giữ:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max 64Gb, màu đen.
  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S 16Gb, màu xám.

Ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với bị cáo để điều tra về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Cáo trạng số: 389/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chính) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hồ Văn H, anh Hồ Ngọc H đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Về xử lý vật chứng:

  • + Ngày 10/08/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Hồ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB màu đen.
  • + Ngày 10/08/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Hồ Ngọc H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S 16Gb, màu xám.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị hại không có ý kiến gì đối với Bản kết luận điều tra, kết luật định giá tài sản và Cáo trạng. Các bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường. Đồng thời, các bị hại và người làm chứng có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị hại, người làm chứng có yêu cầu xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, các bị hại, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, tại quán “Bún Cá Cay Cậu Trạch” tại Ô, đường GS, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của các bị hại gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của bị hại H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S của bị hại H. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt 4.920.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của các bị hại, gây mất trật tự an ninh tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số: 389/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tham lam tư lợi muốn có điện thoại để sử dụng nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Trách nhiệm dân sự: Bị hại H đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB màu đen. Bị hại H đã nhận lại điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S 16Gb, màu xám. Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • + Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB màu đen cho anh Hồ Văn H. Anh H đã nhận được điện thoại vào ngày 10/8/2023.
  • + Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S 16Gb, màu xám cho anh Hồ Ngọc H. Anh H đã nhận được điện thoại vào ngày 10/08/2023.

[9] Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tuy nhiên để giáo dục, răn đe bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, xét thấy thời gian bị tạm giữ, tạm giam cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng không ảnh hưởng đến phòng chống tội phạm tại địa phương.

[10] Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử đã quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[11] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận. Về mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc nên hội đồng xét xử quyết định hình phạt thấp hơn đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i, h khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân Đ 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 7 năm 2023.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB màu đen cho anh Hồ Văn H. Anh H đã nhận được điện thoại vào ngày 10/8/2023.
  • + Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S 16Gb, màu xám cho anh Hồ Ngọc H. Anh H đã nhận được điện thoại vào ngày 10/08/2023.
  1. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Huỳnh Xuân Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; 1
  • - VKSND TP D; 1
  • - Công an TP D; 2
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD; 1
  • - Chi cục THADS TP D; 1
  • - TAND tỉnh Bình Dương; 1
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; 1
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; 1
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; 1
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh BD; 1
  • - Phòng PC 10 CA tỉnh BD; 2
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Thị Thu Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 364/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 364/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 05 (năm) tháng tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger