|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _________________ Bản án số: 364/2022/DS-PT Ngày 08 tháng 6 năm 2022 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc __________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các thẩm phán: Ông Đỗ Đình Thanh, Ông Võ Văn Khoa
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2022/TLPT-DS ngày 18 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 712/2022/QĐPT-DS ngày 11 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1967 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Tân Phú, xã Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông;
Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị T: Ông Trương Ngọc T1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn Tân Bình, xã Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (Văn bản ủy quyền ngày 15/5/2018) – Có mặt; - Bị đơn:
- 2.1. Ông Đinh Văn C, sinh năm 1968 – Vắng mặt;
- 2.2. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1978 – Vắng mặt;
- Cùng địa chỉ: Thôn Tân Tiến, xã Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Vũ Minh T2, sinh năm 1964 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Tân Phú, xã Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông;
Người đại diện hợp pháp của ông Vũ Minh T2: Ông Trương Ngọc T1 (và cũng là người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị T, Văn bản ủy quyền ngày 23/11/2020) – Có mặt; - 3.2. Bà Đinh Thị B, sinh năm 1961 – Vắng mặt;
- 3.3. Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1962 – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn Liên Hồng 02, xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; - 3.4. Ông Phan Xuân M, sinh năm 1974 – Vắng mặt;
- 3.5. Bà Vũ Kiều O, sinh năm 1979 – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn Tân Bình, xã Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông; - 3.6. Ủy ban nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông;
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn H1 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đắk R’Lấp – Vắng mặt; - 3.7. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín;
Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Duy H2, Trưởng phòng Giao dịch Kiến Đức – Chi nhánh Đắk Nông – Vắng mặt;
- 3.1. Ông Vũ Minh T2, sinh năm 1964 – Vắng mặt;
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn H3, Ông Ngọc Văn G, Cụ Nguyễn Văn K, Ông Phạm Văn T3.
- Người kháng cáo: Ông Trương Ngọc T1 (là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Minh T2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tranh chấp trước đây:
Tại phần đất đang tranh chấp hiện nay thì vào năm 2004, chồng của bà Trần Thị T là ông Vũ Minh T2 đã khởi kiện yêu cầu bà Đinh Thị B phải trả phần đất này lại cho ông T2.
Vụ án đã trải qua nhiều cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm. Tại Quyết định số 02/QĐST-DS ngày 25/02/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã đình chỉ việc giải quyết vụ án do đất tranh chấp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo đơn khởi kiện ngày 26/01/2019, nguyên đơn trình bày: Ngày 22/7/1997, bà Trần Thị T và ông Vũ Minh T2 nhận chuyển nhượng của ông Phan Xuân M 07 ha đất tại Thôn Đoàn Kết, xã Đắk Ru. Sau đó bà T trồng cây điều nhưng bị bà Đinh Thị B lấn chiếm. Ngày 26/12/2014, UBND huyện Đắk R'Lấp cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Đinh Văn C, bà Vũ Thị L trên diện tích này. Bà T khởi kiện yêu cầu trả lại đất và hủy GCNQSDĐ nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M với vợ chồng bà T, ông T2 là vi phạm quy định pháp luật tại thời điểm chuyển nhượng. Thực tế sau khi làm giấy tờ, vợ chồng bà T không sử dụng phần đất tranh chấp. Trong khi đó, gia đình ông C, bà L đã sử dụng ổn định, khai phá và được cấp GCNQSDĐ đúng trình tự thủ tục. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của phía nguyên đơn.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Ngọc T1; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
2. Không chấp nhận khởi kiện của bà Trần Thị T về việc buộc ông Đinh Văn C và bà Vũ Thị L trả lại 32.488,2 m2 đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 487440.
3. Về án phí: Bà Trần Thị T và ông Vũ Minh T2 phải chịu án phí dân sự theo quy định.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; - Các đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Công |
Bản án số 364/2022/DS-PT ngày 08/06/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 364/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/06/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm
