Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 363/2024/DS-PT

Ngày: 25/4/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy

Các Thẩm phán: 1. Bà Đặng Huyền Phương

2. Bà Lê Thị Ngọc Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 3 năm 2024 và 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1890/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 571/2024/QĐ-PT ngày 05/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2524/2024/QĐ-PT ngày 05/3/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1969
  2. Bà Lê Trần Diễm T1, sinh năm 1969

Cùng địa chỉ: Số A Đường số A, Khu phố E, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Trần Diễm T1: Ông Nguyễn Thanh T (theo Giấy ủy quyền ngày 29/7/2023). (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

- Luật sư Trần Ngọc T2, thuộc Văn phòng L3; địa chỉ: Số A Đường số A, Khu phố E, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Luật sư Nguyễn Văn H, thuộc Công ty L4; địa chỉ: Số A Đường số A, Khu phố E, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Luật sư Trần Đình D, thuộc Công ty L5; địa chỉ: Số C Đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1944 (xin vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Đình Hồng P, sinh năm 1970 (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số B Đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Đình Hồng P: Bà Nguyễn Thị T3; địa chỉ: Số A Đường N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Các ông bà: Ông Nguyễn Duy K, ông Vũ Mạnh M, bà Ngô Thị Kim T4, ông Nguyễn Văn T5, ông Lê Văn T6, ông Lê Quang T7, bà Lưu Thị H1, bà Trần Thị Bé B1, bà Phan Thị Thu B2, bà Y Kim N, ông A M1, ông Nguyễn Văn T8, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Lương H3, bà Hoàng Thị L, ông Nguyễn Văn H4, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Ngọc T9, bà Lê Lâm Quỳnh N1, bà Lương Thị Mỹ E, ông Nguyễn Văn H5, ông Đặng Dẩu N2, bà Triệu Thị Phẩy T10, ông Từ Đình C, ông Tạ Quang T11 (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số B và B Đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Trần Diễm T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 8 năm 2020 và Đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 10 năm 2020, bản tự khai, các biên bản tại Tòa án ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Trần Diễm T1 là nguyên đơn trình bày (ông T là nguyên đơn và là người đại diện theo ủy quyền của bà T1):

Nguyên đơn yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Đình Hồng P phải trả lại quyền sử dụng đất và bàn giao toàn bộ khuôn viên mặt bằng tại địa chỉ B N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa thuộc thửa 25-1 (một phần thửa 25 tờ bản đồ số 33 bộ địa chính Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) chiều dài 45m, chiều ngang 11m, diện tích 495 m² (sau đây gọi là nhà đất số B), giá tạm tính là 495.000.000 đồng. Tại Đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện ngày 20/12/2022 và ngày 31/3/2023, nguyên đơn xác định lại phần diện tích đất nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại là thuộc các thửa 25-1, 25-2, diện tích là 491,9 m².

Tại các bản khai và các biên bản tại Tòa án, nguyên đơn xác định nguồn gốc căn nhà và đất tại địa chỉ số B là của ông Nguyễn Văn T12 sử dụng trước

năm 1975. Ngày 24/9/1982, ông Nguyễn Văn T12 chuyển nhượng lại cho ông Đặng Văn S thửa đất với diện tích là 22m x 45m theo Giấy sang nhượng đất bỏ hoang. Sau đó ông S sang nhượng lại một phần đất cho ông T theo Giấy bán đất ngày 29/6/2000. Phần đất sang nhượng có diện tích là 11m x 45m, phía trước của mảnh đất này giáp đường rày xe lửa - hiện tại là đường N theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 11/3/2013 thuộc một phần thửa 25, tờ bản đồ 33, bộ địa chính Phường A, quận B. Ông S có giao cho ông T bản sao Giấy sang nhượng đất bỏ hoang ngày 24/9/1982 của ông Nguyễn Văn T12 cho ông Đặng Văn S, tờ kê khai năm 1999 của ông Đặng Văn S có mã số 7012917, số tờ sơ đồ 6, số thửa 1-2, tại địa chỉ B N, Phường A, quận B. Khi nhận đất, hai bên có xác định ranh đất là bờ ruộng có hàng kẽm gai, hai bên có đo vẽ hiện trạng thực thế nhưng không lập bản vẽ. Sau khi nhận đất xong, ông T tiếp tục cho ông S ở tạm cho đến năm 2001 thì ông S chết. Năm 2000 ông S có xin sửa nhà, nhưng thực tế ông T là người bỏ tiền ra sửa chữa, nâng cấp, san lấp mặt bằng toàn bộ khu đất, nhà ngang 6m x 12m ngăn làm 03 phòng cho thuê và công trình vệ sinh ở phía ngoài, cho thuê được khoảng 04 năm. Sau đó dự án đường ống nước BOT đi qua một phần thửa đất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bồi thường 135.818.000 đồng nên phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị B. Việc tranh chấp được hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B và Phòng Tài nguyên Môi trường quận B nhưng không thành. Do vậy, ông T và bà T1 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Đình Hồng P phải trả lại quyền sử dụng đất và bàn giao toàn bộ khuôn viên mặt bằng chiều dài 45m, chiều ngang 11m, diện tích 495m², thuộc thửa 25-1 (một phần thửa 25, tờ bản đồ số 33 bộ địa chính Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) tại địa chỉ B. Ông T, bà T1 không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất từ ông Đặng Văn S.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị B có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị T3 trình bày:

Phần đất tại địa chỉ 2 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là số 295/21) có nguồn gốc do ông Nguyễn Văn C1 (em của bà B) nhận chuyển nhượng từ ông Hồ Văn C2, bà Nguyễn Thị T13 và ông Nguyễn Văn T12 quyền canh tác vĩnh viễn phần đất 1.600 m² theo giấy nhượng quyền canh tác vĩnh viễn ngày 26/01/1985 có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A1 và Ủy ban nhân dân Phường A quận B. Theo Giấy nhượng quyền này, ông C2, bà T13 là người có đất và ông T12 chỉ là người trực canh - tức là người đang canh tác trên đất của ông C2, bà T13. Năm 1989, ông C1 tặng cho bà B phần đất có diện tích 538 m² và sau đó có làm Giấy thỏa thuận cho nhà đất ngày 18/11/1989 để xác nhận việc cho bà B quyền canh tác, sử dụng đất thuộc thửa đất số 25, 29 tờ bản đồ số 33 và căn nhà trên phần đất này. Trong quá trình sử dụng, bà B có bồi đắp, san lấp rạch nên diện tích khuôn viên đất hiện nay khoảng hơn 800 m². Gia đình bà B sử dụng một phần để ở và một phần để trồng hoa màu, cây ăn trái. Ông Đặng Văn S là người làm công cho ông C1, sau khi ông C1 tặng cho đất

cho bà B thì ông S tiếp tục làm công cho bà B. Khoảng năm 1989-1990, bà B có cho ông S dựng nhà tạm để ở nhờ, hiện căn nhà đã đổ sụp không còn.

Năm 1999, bà B đã kê khai nhà đất không số, diện tích đất là 538 m², diện tích xây dựng là 12 m², nguồn gốc đất do khai thác bồi đắp năm 1983. Trong tờ khai năm 1999 có ghi chồng bà B là ông Nguyễn Đình L1 (chết năm 1975). Khoảng năm 2000, ông S chết, có một người tên là Đặng Thị M2 tự nhận là con gái ông S, đến gây gổ và dọn đồ của ông S đi, cho đến nay bà B không gặp lại bà M2 nữa. Ngay sau khi bà M2 dọn đồ của ông S đi, Ủy ban nhân dân Phường A quận B có xuống nhà bà B cắm cọc, chia ranh đất và yêu cầu bà B ký biên bản nhưng bà B không ký và không cho cắm cọc. Năm 2002, bà B nộp đơn khởi kiện bà Đặng Thị M2 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, vụ án đã được Tòa án đình chỉ theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 76/ĐC ngày 13/11/2002. Bà B xác định từ đó đến nay bà không khởi kiện bà M2 hay bất cứ ai liên quan đến quyền sử dụng đất tại địa chỉ số B.

Năm 2010-2011, bà B nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận cho toàn khu đất, Ủy ban nhân dân Phường A đã xác nhận đất đang có tranh chấp. Sau đó bà B khiếu nại, Ủy ban nhân dân Phường A có quyết định giải quyết khiếu nại ngày 29/6/2011.

Bà B không biết về việc ông S làm Tờ kê khai nhà đất năm 1999. Ông S cũng không phải chồng bà B. Ông S không có quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc một phần thửa số 25, 29 tờ bản đồ số 33 nên việc ông S chuyển nhượng cho ông T là không có cơ sở. Bà B không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của ông T, bà T1. Bà B không có yêu cầu phản tố nào trong vụ án và không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn ông Nguyễn Đình Hồng P có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị T3 trình bày:

Ông Nguyễn Đình Hồng P là con của bà Nguyễn Thị B. Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại địa chỉ 2 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc về bà B. Ông P chỉ cư trú tại căn nhà này. Ông Đặng Văn S là người làm công cho bà B, được bà B cho ở nhờ trên đất. Ông P không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của ông T, bà T1.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là các ông bà: Ông Nguyễn Duy K, ông Vũ Mạnh M, bà Ngô Thị Kim T4, ông Nguyễn Văn T5, ông Lê Văn T6, ông Lê Quang T7, bà Lưu Thị H1, bà Trần Thị Bé B1, bà Phan Thị Thu B2, bà Y Kim N, ông A M1, ông Nguyễn Văn T8, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Lương H3, bà Hoàng Thị L, ông Nguyễn Văn H4, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Ngọc T9, bà Lê Lâm Quỳnh N1, bà Lương Thị Mỹ E, ông Nguyễn Văn H5, ông Đặng Dẩu N2, bà Triệu Thị Phẩy T10, ông Từ Đình C, ông Tạ Quang T11 trình bày:

Các ông, bà là người thuê phòng trọ tại địa chỉ 2 N, Phường A, quận B của bà B. Các ông bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và xin được

vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Các ông, bà cam kết sẽ chấp hành nghiêm túc bản án của Tòa án.

Tại Bản án sơ thẩm số 1890/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh - Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Trần Diễm T1 về việc buộc bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Đình Hồng P và những người đang cư trú tại nhà số B, B Đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh trả lại phần đất có diện tích 477m² thuộc thửa 25 tờ bản đồ số 33 Bộ địa chính Phường A, quận B (theo tài liệu 2004), vị trí đất thể hiện là thửa phân chiết 25-1, 25-2 tại Bản đồ vị trí của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 06/12/2022.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Trần Diễm T1 phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.900.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0088321 ngày 08/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Trần Diễm T1 được hoàn lại 11.600.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.

Ngày 03/10/2023, ông Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo toàn bộ đối với Bản án số 1890/2023/DS-ST ngày 22 tháng 09 năm 2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều

68, Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Giữ nguyên bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Về án phí: Các đương sự thực hiện theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thời hạn kháng cáo:

Ngày 22/9/2023, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tuyên án, ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Trần Diễm T1 có mặt khi Hội đồng xét xử tuyên án. Ngày 03/10/2023, ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Trần Diễm T1 có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn kháng cáo của đương sự còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định nên được chấp nhận xem xét.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Đình Hồng P vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt bà B, ông P.

[1.3] Về việc đưa B3 Bồi thường giải phóng mặt bằng quận B vào tham gia tố tụng theo yêu cầu của nguyên đơn:

Theo Biên bản làm việc ngày 25/4/2024 Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận B cung cấp cho Tòa án thì liên quan đến phần đất đang tranh chấp, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận B chưa lập hồ sơ bồi thường. Do vậy, không cần thiết đưa Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận B vào tham gia tố tụng

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của của ông Nguyễn Thanh T, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xét tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự thì đối tượng tranh chấp trong vụ án là quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích là 477m², thuộc các thửa phân chiết số 25-1, 25-2 theo bản đồ vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 06/12/2022 tọa lạc tại địa chỉ số B N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét nguồn gốc, quá trình đăng ký sử dụng đất:

Căn cứ văn bản số 861/TTĐK-KT ngày 08/01/2007 và trích sao sổ điền thổ số 47/TS-TTĐK ngày 05/01/2007 của Trung tâm T14 và Đăng ký nhà thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, Quyết định số 4600/QĐ-UBND

ngày 06/7/2020 của Ủy ban nhân dân quận B về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị B, bản đồ vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 06/12/2022 thì nguồn gốc, quá trình đăng ký, sử dụng phần đất tranh chấp như sau:

Theo tài liệu trước năm 1975: Vị trí nhà đất số B N, Phường A thuộc một phần Bằng khoán số 1526 (thuộc lô số 1, tờ bản đồ số 15, diện tích 7.632m2, loại đất là Đường xe lửa, tên chủ đất: T15), Bằng khoán số 1527 (thuộc lô số 2, tờ bản đồ số 15, diện tích 1.720 m2, tên chủ đất: Nguyễn Văn L2 và Nguyễn Văn N3), Bằng khoán số 1528 (thuộc lô số 3, tờ bản đồ số 15, diện tích 11.720 m2, tên chủ đất: Hồ Văn C3 và Nguyễn T9) và một phần rạch, tờ bản đồ số 15 B.

Theo Tài liệu 299/TTg của Chính phủ: Vị trí nhà đất số B N, Phường A thuộc một phần thửa số 335, tờ bản đồ số 2 do Ủy ban nhân dân Phường A đứng tên chủ sử dụng tại Sổ mục kê ruộng đất, loại đất HgĐb, diện tích 804m2 và một phần thuộc đường, rạch.Tuy nhiên qua đối chiếu theo Tài liệu 299/TTg của Chính phủ, vị trí nhà đất số B N, Phường A thuộc một phần thửa số 335, tờ bản đồ số 2. Tại Sổ đăng ký ruộng đất thể hiện chủ sử dụng ruộng đất đối với thửa số 335, tờ bản đồ số 2 là Đất chưa phân phối sử dụng (không phải Ủy ban nhân dân Phường A).

Hiện nay phần đất bị đơn đang quản lý, sử dụng gồm: “Một phần diện tích đất thuộc Rạch, tờ bản đồ số 2 theo Tài liệu 299/TTg của Chính phủ (khoảng 338m²; trong đó có khoảng 75.9m² thuộc rạch theo Bản đồ địa chính) và một phần diện tích thuộc đường, tờ bản đồ số 33 - Bản đồ địa chính Phường A (khoảng 29.3m²; trong đó có khoảng 16.5m² thuộc đường theo Tài liệu 299/TTg của Chính phủ) có nguồn gốc lấn chiếm sử dụng vào mục đích đất ở trước ngày 01/7/2014. Phần diện tích đất còn lại (khoảng 435,8 m²) thuộc một phần thửa 335 tờ bản đồ số 2 theo Tài liệu 299/TTg của Chính phủ, không có nguồn gốc lấn chiếm, phần diện tích đất nêu trên có nguồn gốc do gia đình bà B sử dụng ổn định vào mục đích đất ở trước ngày 15/10/1993)”.

Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 06/12/2022 (theo tài liệu năm 2004) thì vị trí nhà đất số B N, Phường A thuộc một phần các thửa cũ 25, 29. Theo lời khai của nguyên đơn, bị đơn thì phần đất tranh chấp là thửa phân chiết 25-1, 25-2, gồm toàn bộ phần đất không có nguồn gốc lấn chiếm và một phần diện tích lấn rạch.

Ông Nguyễn Thanh T cho rằng phần đất này có nguồn gốc trước năm 1975. Ngày 24/9/1982, ông Nguyễn Văn T12 chuyển nhượng lại cho ông Đặng Văn S thửa đất với diện tích là 22m x 45m theo Giấy sang nhượng đất bỏ hoang ngày 24/9/1982. Sau đó ông S sang nhượng lại một phần đất cho ông T theo Giấy bán đất ngày 29/6/2000. Tuy nhiên, theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là Giấy sang nhượng đất bỏ hoang ngày 24/9/1982 có nội dung:

“Tôi là Nguyễn Văn Tân sinh 1922, thường trú số nhà: 447/8 Phường A Đường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên trước có khai thác đất công sản biền cầu đen đất hoang bề dài 45 mét chiều rộng 22 mét năm 1980 trên kênh rạch. Tôi vì sức - khỏe, không tiện bề sinh nghiệp tăng giản sản xuất. Tôi đứng ra bằng lòng cho đứt đoạn anh Đặng Văn S sinh 1929. Kiến thiết canh tác ở sinh nghiệp - quyền sở hữu vĩnh viễn; không ai có quyền tranh chấp. Sau khi đo đạc chịu đóng thuế đứng tên. Nếu sau này tôi sai lời cam kết tôi chịu trách nhiệm. Nay viết giấy này để chứng minh”.

Giấy sang nhượng này chỉ thể hiện ông Nguyễn Văn T12 chuyển nhượng cho ông Đặng Văn S phần đất do ông T12 khai hoang có diện tích 22m x 45m mà không thể hiện vị trí đất chuyển nhượng thuộc thửa nào, tọa lạc ở địa chỉ nào. Ông Nguyễn Thanh T cũng không có gì để chứng minh phần đất bà Nguyễn Thị B đang sử dụng là phần đất ông nhận chuyển nhượng của ông S.

Theo Giấy bán nhà đất ngày 29/6/2000 giữa ông Đặng Văn S, bà Lê Trần Diễm T1, ông Nguyễn Thanh T là giấy tay, không được ông chứng, chứng thực. Nội dung của giấy mua bán không thể hiện vị trí thửa đất ở đâu, tứ cận như thế nào.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 1890/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0028437 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - TAND quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP (T/20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 363/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 363/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger