|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 363/2024/DSST
Ngày: 11/10/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Dung
2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Ngày 11 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 406/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 821/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Địa chỉ: Số A, T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: 26-28, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Duy Q sinh năm 1989 (có mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 25/01/2024)
Bị đơn: Ông Phan Hồng S sinh năm 1962 (vắng mặt)
Bà Huỳnh Thị H sinh năm 1958 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B, đường số A, khu dân cư H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên hệ: Số D, khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 22/6/2022, Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H ký hợp đồng tín dụng số REF2217200409/HDTD/SCA-PHS, số tiền vay 2.030.000.000 đồng. Thời hạn vay từ ngày 22/6/2022 đến ngày 22/11/2027. Lãi suất trong hạn 9,59%/năm cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất sau đó được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi lãi suất cơ sở do S1 ban hành từng thời kỳ. Ngày điều chỉnh đầu tiên là ngày 22/6/2023, mức điều chỉnh lãi suất xác định bằng lãi suất cơ sở do S1 ban hành từng thời kỳ áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,89%/năm. Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mục đích vay mua xe ô tô. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H số tiền 2.030.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H thế chấp tài sản cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp số REF2217200409/HDTC/SCA-PHS ngày 22/6/2022. Tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, số loại: E300, biển số 65A-338.43, số khung RLMZF8DX1NV010057, số máy 26492080207108, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65012845 do Phòng C – Công an thành phố C cấp ngày 08/6/2022 cho ông Phan Hồng S. Hợp đồng thế chấp, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65012845 đã đăng ký biện pháp bảo đảm 22/6/2022.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H trả nợ nhưng ông bà không thực hiện nghĩa vụ.
Tính đến ngày 11/10/2024, ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 2.088.978.674 đồng. Bao gồm nợ gốc là 1.667.689.076 đồng; nợ lãi là 421.289.598 đồng (Trong đó: Lãi trong hạn là 321.237.658 đồng; nợ lãi quá hạn là 76.996.750 đồng, lãi chậm trả 23.055.190 đồng).
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H phải trả số tiền tính đến ngày 11/10/2024 là 2.088.978.674 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.667.689.076 đồng; Nợ lãi là 421.289.598 đồng). Ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 12/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H không trả hoặc trả không đủ nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp theo hợp đồng thế chấp số REF2217200409/HDTC/SCA-PHS ngày 22/6/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Xét về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H ký kết hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ thỏa thuận các đương sự tại hợp đồng tín dụng và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- Về vắng mặt người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng của Ngân hàng:
Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng với và ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H có ký hợp đồng tín dụng số REF2217200409/HDTD/SCA-PHS ngày 22/6/2022. Số tiền vay 2.030.000.000 đồng. Mục đích vay mua xe ô tô. Thời hạn vay từ ngày 22/6/2022 đến ngày 22/11/2027. Lãi suất trong hạn 9,59%/năm cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất sau đó được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi lãi suất cơ sở do S1 ban hành từng thời kỳ. Ngày điều chỉnh đầu tiên là ngày 22/6/2023, mức điều chỉnh lãi suất xác định bằng lãi suất cơ sở do S1 ban hành từng thời kỳ áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,89%/năm. Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H số tiền 2.030.000.000 đồng.
Tại thời điểm ký hợp đồng ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hợp đồng giao kết với Ngân hàng là hợp đồng tín dụng và tự nguyện giao kết hợp đồng. Về hình thức, nội dung hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận của hợp đồng. Việc Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H còn thiếu Ngân hàng sang nợ quá hạn đối với khoản vay đúng theo thỏa thuận hợp đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông S và bà H nhưng ông bà vắng mặt, không thể hiện ý kiến của mình, không cung cấp các chứng cứ có liên quan để bảo vệ quyền lợi cho mình. Nên việc Ngân hàng yêu cầu ông S và bà H trả nợ gốc số tiền 1.667.689.076 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi suất: Nhận thấy, theo hợp đồng tín dụng thể hiện mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng. Hợp đồng tín dụng trên đã được thực hiện và có hiệu lực thi hành. Ông S và bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Tính đến ngày 11/10/2024 Ngân hàng yêu cầu ông S và bà H phải trả tiền lãi là 421.289.598 đồng (Trong đó: Lãi trong hạn: 321.237.658 đồng, lãi quá hạn: 76.996.750 đồng, lãi chậm trả 23.055.190 đồng) là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông S và bà H phải trả tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 11/10/2024 là 2.088.978.674 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.667.689.076 đồng; Nợ lãi là 421.289.598 đồng). Ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 12/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ là đúng quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Đối với hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ của Ngân hàng:
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng, ông S và bà H thế chấp tài sản cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp số REF2217200409/HDTC/SCA-PHS ngày 22/6/2022. Tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, số loại: E300, biển số 65A-338.43, số khung RLMZF8DX1NV010057, số máy 26492080207108, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65012845 do Phòng C – Công an thành phố C cấp ngày 08/6/2022 cho ông Phan Hồng S.
Xét hợp đồng thế chấp, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65012845 do Phòng C – Công an thành phố C cấp 08/6/2022 cho ông Phan Hồng S đã đăng ký biện pháp bảo đảm 22/6/2022 đúng quy định tại Điều 299 và Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và căn cứ nội dung hợp đồng thế chấp các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng hợp đồng thế chấp.
Trường hợp ông S và bà H không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và lãi của hợp đồng tín dụng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, số loại: E300, biển số 65A-338.43, số khung RLMZF8DX1NV010057, số máy 26492080207108, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65012845 do Phòng C – Công an thành phố C cấp ngày 08/6/2022 cho ông Phan Hồng S theo hợp đồng thế chấp số REF2217200409/HDTC/SCA-PHS ngày 22/6/2022 và theo quy định tại khoản 1 Điều 299, Điều 317, khoản 6 Điều 320, khoản 5, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí có giá ngạch là 73.780.000 đồng (Bảy mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 33.891.000 đồng (Ba mươi ba triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001204 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
Buộc bị đơn ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền gốc 1.667.689.076 đồng; nợ lãi tính đến ngày 11/10/2024 là 421.289.598 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 2.088.978.674 đồng (Hai tỷ, không trăm tám mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi tám nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng) và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 12/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp bị đơn ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, số loại: E300, biển số 65A-338.43, số khung RLMZF8DX1NV010057, số máy 26492080207108, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65012845 do Phòng C – Công an thành phố C cấp ngày 08/6/2022 cho ông Phan Hồng S theo hợp đồng thế chấp số REF2217200409/HDTC/SCA-PHS ngày 22/6/2022.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Phan Hồng S và bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí có giá ngạch là 73.780.000 đồng (Bảy mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 33.891.000 đồng (Ba mươi ba triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001204 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 363/2024/DSST ngày 11/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 363/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
