Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 363/2024/DS-ST

Ngày 27-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn và bà Phan Hoàng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 399/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 618/2024/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số B đường T, tổ E, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số B đường T, tổ E, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết V trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị Mỹ L là chỗ quen biết, nên bà đã cho bà L vay nhiều lần với tổng số tiền 375.000.000 đồng, khi vay có làm biên nhận nợ, cụ thể các lần vay như sau:

  1. Ngày 15/12/2021 bà L vay 70.000.000 đồng; lãi suất 3%/tháng, hợp đồng vay không thời hạn; đóng lãi hàng tháng số tiền 2.100.000 đồng, đóng tới tháng 15/2/2024, đóng được 26 tháng, với số tiền 54.600.000 đồng, đồng ý khấu trừ số tiền lãi đóng vượt vào vốn, còn bao nhiêu thì yêu cầu bà L trả tôi bấy nhiêu và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ 16/2/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
  2. Ngày 26/8/2022 bà L vay 100.000.000 đồng; lãi suất 3%/tháng, hợp đồng vay không thời hạn; đóng lãi hàng tháng số tiền 3.000.000 đồng, đóng được 17 tháng, đóng tới 26/2/2024, được số tiền 51.000.000 đồng, đồng ý khấu trừ lãi vượt vào vốn, còn bao nhiêu thì yêu cầu bà L trả tôi bấy nhiêu và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ 27/02/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
  3. Ngày 29/7/2023 bà L vay 80.000.000 đồng; lãi suất 5%/tháng, số tiền góp mỗi ngày là 800.000 đồng (bao gồm vốn, lãi, nhưng không tách bạch rõ là bao nhiêu vốn, bao nhiêu), góp trong 4 tháng tổng số tiền 96.000.000 đồng, tính ra lãi của 04 tháng là 16.000.000 đồng, suy ra là 4.000.000 đồng tháng, vậy nên lãi là 5%/tháng. Nhưng bà L chỉ góp trả vốn + lãi được 56.000.000 đồng thì ngưng là 70 ngày, còn nợ 40.000.000 đồng vốn, lãi. Nay yêu cầu giải quyết theo pháp luật, sau khi khấu trừ lãi vượt vào vốn thì phần vốn còn lại yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm.
  4. Ngày 05/10/2023 bà L vay 50.000.000 đồng; lãi suất 5%/tháng, trả góp vốn + lãi 55 ngày mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, ghi như vậy nhưng chưa góp được ngày nào thì bà L đã bỏ đi. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho bà số tiền vốn 50.000.000 đồng và lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày 05/10/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi sau ngày xét xử cho đến khi thi hành án xong.
  5. Ngày 03/11/2023 có ký hợp đồng vay 75.000.000 đồng, nhưng thực chất chỉ có 35.000.000 đồng tiền vốn, còn 40.000.000 đồng là tiền nợ của khoản vay ngày 08/10/2023 khác đã nhập vào thành 75.000.000 đồng. Xác định 02 khoản tiền này là tiền vay, không liên quan đến 02 khoản vay trên. Nay bà V xác định ngày 03/11/2023 bà L có vay của bà số tiền 35.000.000 đồng và 40.000.000 đồng của khoản vay cũ, lãi suất 5%/tháng, đóng lãi được 01 tháng 3.750.000 đồng, bà đồng ý khấu trừ vào số tiền lãi đóng vượt vào vốn, còn bao nhiêu thì yêu cầu bà L trả bấy nhiêu và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ 03/01/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

Khi ký hợp đồng vay để làm tin bà L có giao cho bà hợp đồng thuê K, bà có nhận của bà L hợp đồng thuê K, bà đồng ý trả lại hợp đồng khi bà L trả nợ cho bà.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết V. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L trả số tiền vốn gốc (sau khi đã khấu trừ lãi vượt so với quy định pháp luật) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất 20%/năm cho đến ngày thi hành án xong.

Đề nghị đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: 05 giấy cho vay tiền, hợp đồng thuê kios, biên bản xác minh tình trạng cư trú...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là về hợp đồng vay tài sản; bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không lý do không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về xác định chứng cứ trong vụ án: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà L có nêu rõ nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn cùng chứng cứ kèm theo là 05 giấy cho vay tiền, hợp đồng thuê kios, nhưng bà L không khiếu nại, cũng không có ý kiến phản bác hay phản tố lại đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp “05 giấy cho vay tiền, hợp đồng thuê kios” để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận định:

Trong 05 giấy cho vay tiền đều có ghi người vay là bà L, người cho vay là bà V, số tiền vay, lãi suất, có tờ ghi thời hạn vay và có tờ không ghi thời hạn vay, nên có đủ cơ sở xác định: các đương sự giao kết 02 loại hợp đồng là hợp đồng vay tài sản có lãi, có thời hạn và hợp đồng vay tài sản có lãi, không thời hạn. Xét, hợp đồng vay tài sản giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không bị ép buộc, không bị lừa dối, có nội dung và hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Do bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên bà V khởi kiện yêu cầu trả vốn, trả lãi theo mức lãi suất 20%/năm là phù hợp quy định nên được chấp nhận.

Tuy nhiên, theo quy định pháp luật thì đương sự có quyền thỏa thuận lãi suất, nhưng không vượt quá 20%/năm, do các bên thỏa thuận lãi suất từ 3% đến 5%/tháng là từ 36%/năm đến 60%/năm, thỏa thuận này trái quy định pháp luật, phần lãi vượt quá quy định không có hiệu lực, số tiền lãi đóng vượt được khấu trừ vào vốn.

  1. Ngày 15/12/2021 bà L vay 70.000.000 đồng, đóng được 26 tháng (từ ngày 15/12/2021 đến 15/02/2024), với số tiền 54.600.000 đồng.
    • - Lãi theo quy định pháp luật của 26 tháng phải đóng là:
    • 70.000.000 đồng x 20%/năm x 26 tháng = 30.333.333 đồng.
    • - Số tiền lãi đã đóng vượt là:
    • 54.600.000 đồng - 30.333.333 đồng = 24.266.667 đồng.
    • - Số tiền lãi đóng vượt trừ vào vốn gốc:
    • 70.000.000 đồng - 24.266.667 đồng = 45.733.333 đồng.
    • - Số tiền lãi phải đóng từ ngày 16/02/2024 đến ngày 27/9/2024 là 225 ngày trên số tiền vốn còn lại 45.733.333 đồng là:
    • 45.733.333 đồng x 20%/năm x 225 ngày = 5.638.356 đồng.
    • - Cộng vốn, lãi là:
    • 45.733.333 đồng + 5.638.356 đồng = 51.371.689 đồng (làm tròn 51.371.000 đồng).
  2. Ngày 26/8/2022 bà L vay 100.000.000 đồng; lãi suất 3%/tháng, đóng lãi hàng tháng số tiền 3.000.000 đồng, đóng được 17 tháng (từ ngày 26/8/2022 đến ngày 26/2/2024), được số tiền 51.000.000 đồng.
    • - Lãi theo quy định pháp luật của 17 tháng phải đóng là:
    • 100.000.000 đồng x 20%/năm x 17 tháng = 28.333.333 đồng.
    • - Số tiền lãi đã đóng vượt:
    • 51.000.000 đồng - 28.333.333 đồng = 22.666.667 đồng.
    • - Số tiền lãi đóng vượt trừ vào vốn gốc:
    • 100.000.000 đồng - 22.666.667 đồng = 77.333.333 đồng.
    • - Số tiền lãi phải đóng từ ngày 27/02/2024 đến ngày 27/9/2024 là 214 ngày trên số tiền vốn còn lại 77.333.333 đồng:
    • 77.333.333 đồng x 20%/năm x 214 ngày = 9.068.127 đồng.
    • - Cộng vốn, lãi là: 77.333.333 đồng + 9.068.127 đồng = 86.401.461 đồng (làm tròn 86.401.000 đồng) (2).
  3. Ngày 29/7/2023 bà L vay 80.000.000 đồng; lãi suất 5%/tháng, số tiền góp mỗi ngày là 800.000 đồng. Bà L góp trả vốn và lãi được 70 ngày, số tiền 56.000.000 đồng. Do các bên thỏa thuận trả vốn và lãi hàng ngày, nhưng không xác định rõ vốn bao nhiêu, lãi bao nhiêu, nên Hội đồng xét xử
    • - Lãi suất theo quy định của 70 ngày là từ ngày 29/7/2023 đến ngày 06/10/2023, theo mức lãi suất 20%/năm cho ngày thứ nhất là 43.800 đồng, như vậy số tiền vốn + lãi theo thỏa thuận 800.000 đồng/ngày là đóng vượt, sẽ được khấu trừ dần vào vốn. Số vốn còn lãi sẽ tiếp tục tính lãi suất 20%/năm, tiếp tục trừ vào số tiền góp 800.000 đồng/ngày, cứ như vậy trừ dần cho đến hết 70 ngày. Cuối cùng sẽ ra được số tiền lãi theo quy định pháp luật phải đóng là 2.055.000 đồng, bà L đã thực đóng 56.000.000 đồng, số tiền vốn, lãi đóng vượt là 53.945.000 đồng.
    • Khấu trừ vào vốn 80.000.000 đồng, số tiền còn lại là vốn tồn sau 70 ngày.
    • 80.000.000 đồng - 53.945.000 đồng = 26.055.000 đồng (vốn tồn).
    • - Lãi suất theo quy định từ 07/10/2023 đến ngày 27/9/2024 là 357 ngày:
    • 26.055.000 đồng x 20%/năm x 357 ngày = 5.096.000 đồng.
    • - Cộng vốn, lãi là: 26.055.000 đồng + 5.096.000 đồng = 31.151.000 đồng
  4. Ngày 05/10/2023 bà L vay 50.000.000 đồng; lãi suất 5%/tháng, trả góp vốn + lãi 55 ngày mỗi ngày góp 1.000.000 đồng, chưa góp được ngày nào.
    • 50.000.000 đồng x 20%/năm x 359 ngày = 9.835.616 đồng.
    • Cộng vốn, lãi là: 50.000.000 đồng + 9.835.616 đồng = 59.835.616 đồng (làm tròn 59.835.000 đồng).
  5. Ngày 03/11/2023 có ký hợp đồng vay 75.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, đóng lãi được 01 tháng (từ ngày 03/11/2023 đến ngày 03/12/2023) là 3.750.000 đồng.
    • - Lãi theo quy định pháp luật:
    • 75.000.000 đồng x 20%/năm x 01 tháng = 1.250.000 đồng.
    • - Số tiền lãi nộp vượt:
    • 3.750.000 đồng - 1.250.000 đồng = 2.500.000 đồng.
    • - Trừ tiền lãi nộp vượt vào vốn:
    • 75.000.000 đồng - 2.500.000 đồng = 72.500.000 đồng.
    • - Lãi từ ngày 04/12/2023 đến ngày 27/9/2024 là 299 ngày:
    • 72.500.000 đồng x 20%/năm x 299 ngày = 11.878.082 đồng.
    • - Cộng vốn, lãi là:
    • 72.500.000 đồng + 11.878.082 đồng = 84.378.082 đồng (làm tròn 84.378.000 đồng).

Tổng vốn, lãi của 05 khoản nợ:

51.371.000 đồng + 86.401.000 đồng + 31.151.000 đồng + 59.835.000 đồng + 84.378.000 đồng = 313.136.000 đồng.

Buộc bà L phải có nghĩa vụ trả cho bà V số tiền vốn, lãi tính đến ngày 27/9/2024 là 313.136.000 đồng.

Bà V đồng ý trả bà L hợp đồng thuê kios. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện định đoạt của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự:

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định trên số tiền bị buộc trả (313.136.000 đồng) là 15.656.000 đồng.

Mặc dù, theo đơn khởi kiện ban đầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền vốn 375.000.000 đồng và 22.617.000 đồng, nhưng quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đồng ý khấu trừ số tiền lãi đóng vượt vào vốn, xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, nên sau khi tính toán khấu trừ lại số tiền buộc thanh toán giảm hơn so với đơn khởi kiện nhưng vì sự tự nguyện khấu trừ lãi vượt vào vốn nên nguyên đơn không phải chịu án phí, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết V đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Tuyết V số tiền 313.136.000 đồng.

    Kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 20%/năm.

  2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Tuyết V về việc trả lại hợp đồng thuê kios cho bà Nguyễn Thị Mỹ L
  3. Về án phí:
    • - Bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 15.656.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Bà Trần Thị Tuyết V được nhận lại 9.940.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002262 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Sơn Phan Hoàng MaiLê Thị Hồng Thi

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 363/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 363/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà V kiện bà L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger