|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 363/2024/DS-ST Ngày: 16/9/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thái Thục Hiền
- Bà Nguyễn Thị Kính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 191/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2024/QĐXXST-DS ngày 08/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2024/QĐST-DS ngày 28/8/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
Trụ sở: Lầu 8, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971, trú tại: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền số 668/2024/UQ-TGĐ ngày 11/01/2024).
(Đương sự có đơn xin vắng mặt)
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961
Địa chỉ: Số nhà A đường P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 18/3/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, ông Trần Gia T đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/4/2014, Ngân hàng TMCP S (viết tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn H có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng với hạn mức tín dụng là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân và lãi suất được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo mức lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, qua nhiều lần làm việc ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Kể từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 16/9/2024, ông Nguyễn Văn H đã thanh toán cho Ngân hàng 199.298.985 đồng. Ngày 06/3/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 56.749.984 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Do ông Nguyễn Văn H vi phạm nghĩa vụ thanh toán và các khoản nợ nêu trên là Ngân hàng cho cá nhân ông Nguyễn Văn H vay không liên quan đến ai nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông H phải chịu trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 16/9/2024 là 125.065.634 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn sáu trăm ba mươi bốn đồng) (bao gồm tiền nợ gốc là 56.749.984 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi chín ngàn chín trăm tám mươi bốn đồng) và tiền nợ lãi là 68.315.650 đồng (Sáu mươi tám triệu ba trăm mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi đồng)) và tiền lãi phát sinh trên số tiền còn nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng mà Ngân hàng đã ký kết với ông H kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thanh toán dứt nợ. Thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai, không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đại diện của nguyên đơn là ông Trần Gia T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét thấy đây là vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do bị đơn là ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
[3.1] Ngân hàng TMCP S yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán khoản nợ với số tiền là 125.065.634 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn sáu trăm ba mươi bốn đồng) (bao gồm tiền nợ gốc là 56.749.984 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi chín ngàn chín trăm tám mươi bốn đồng) và tiền nợ lãi là 68.315.650 đồng (Sáu mươi tám triệu ba trăm mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi đồng)).
[3.2] Xét ông Nguyễn Văn H đã vay tiền của Ngân hàng TMCP S theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 01/4/2014 nhưng vi phạm hợp đồng, không trả vốn lãi theo thỏa thuận nên Ngân hàng khởi kiện đòi số tiền còn nợ trên là có căn cứ cần chấp nhận giải quyết vì phù hợp với Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005.
[3.3] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ cùng lời khai của nguyên đơn cung cấp, đã có đủ cơ sở xác định Ngân hàng có cho ông Nguyễn Văn H vay tiền và cho đến nay ông H vẫn chưa thanh toán xong tiền nợ vốn và lãi cho Ngân hàng như các bên đã thỏa thuận. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng đối với cá nhân ông Nguyễn Văn H về số nợ gốc, nợ lãi là có căn cứ cần chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.253.282 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi ba ngàn hai trăm tám mươi hai đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc ông Nguyễn Văn H chịu trách nhiệm cá nhân thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ là 125.065.634 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn sáu trăm ba mươi bốn đồng), trong đó gồm: Tiền nợ gốc là 56.749.984 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi chín ngàn chín trăm tám mươi bốn đồng), tiền nợ lãi là 68.315.650 đồng (Sáu mươi tám triệu ba trăm mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 01/4/2014.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu là 6.253.282 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi ba ngàn hai trăm tám mươi hai đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.661.858 (Hai triệu sáu trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi tám) đồng theo biên lai thu số 0000978 ngày 04/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Ngân hàng Thương mại cổ phần S, ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh Minh |
Bản án số 363/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 363/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hùng thanh toán số tiền còn nợ
