| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 363/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 9 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Xuân Thành
- 2. Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2024/HNGĐST ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1997; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ A, xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Số A - A, đường Y, quận D, thành phố Đ, Đài Loan. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Trương Thị N1, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Khối P, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).
- Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ A, xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2024, bản tự khai, đơn đề nghị không hoà giải và xin giải quyết vắng mặt (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T Phan Văn T tự nguyện kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyền số 01/2015 ngày 16/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do điều kiện kinh tế khó khăn, quan niệm sống có nhiều điều khác biệt dẫn đến tình cảm rạn nứt. Năm 2020 chị đi xuất khẩu lao động tại đất nước Đài Loan. Từ thời điểm đó, do mâu thuẫn vợ chồng chưa được giải quyết, lại thêm khoảng cách địa lý xa xôi, hai vợ chồng không còn tiếng nói chung và không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Phan Văn T.
- Về con chung: Chị và anh Phan Văn T có hai con chung là cháu: Phan Nguyễn Kiều T1, sinh ngày 23/4/2015 và cháu Phan Thiện N2, sinh ngày 02/9/2017. Hiện nay, hai cháu đang do anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị đề nghị để anh T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cả hai cháu và đề nghị cấp dưỡng cho hai con chung là 2.000.000 đồng/tháng/2 cháu cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 01/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Phan Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị N tự nguyện kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyền số 01/2015 ngày 16/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau hai người con chung. Đến đầu năm 2020 do cuộc sống khó khăn nên anh cùng gia đình vay mượn, tạo điều kiện cho chị N đi làm ăn ở nước ngoài nhưng được một thời gian thì chị N không còn liên lạc về nhà nữa. Anh có tìm hiểu qua bạn bè thì được biết chị N đã sống chung với người khác và qua liên lạc thì chị N đã thừa nhận điều đó. Nay chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về con chung: Anh và chị N có hai người con chung là cháu Phan Nguyễn Kiều T1, sinh ngày 23/4/2015 và cháu Phan Thiện N2, sinh ngày 02/9/2017. Hiện nay, hai cháu đều đang ở với anh. Nay ly hôn, anh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu và yêu cầu chị N cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho hai cháu phát triển và học tập đầy đủ.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 14 tháng 6 năm 2024, chị Nguyễn Thị Ánh N có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phan Văn T. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị N và anh T đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; chị N đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2020 cho đến nay nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Ánh N không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn cũng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, còn bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ánh N và anh Phan Văn T được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi chị N đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì tình trạng vợ chồng càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm lẫn nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần. Tại bản tự khai, anh T cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì đề đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân - Gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N.
[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai, chị N, anh T đều trình bày vợ chồng có hai con chung là cháu: Phan Nguyễn Kiều T1, sinh ngày 23/4/2015 và cháu Phan Thiện N2, sinh ngày 02/9/2017. Hiện nay hai cháu đang ở với anh T. Quá trình giải quyết vụ án, chị N, anh T đều thống nhất giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy từ khi chị N đi xuất khẩu lao động đến nay, hai cháu đã sinh sống cùng anh T, được chăm sóc và phát triển hoàn toàn bình thường. Mặt khác, chị N hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, cháu T1 cũng có nguyện vọng được ở với bố nên cần giao cả hai cháu cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ) chị N đề nghị được cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/hai cháu (mỗi cháu là 1.000.000đ/tháng). Tại bản tự khai, anh T yêu cầu chị N cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho hai cháu phát triển và học tập đầy đủ. Xét thấy mức cấp dưỡng mà chị N đưa ra 1.000.000đ/cháu/tháng là hơi thấp so với mức sống trung bình tại địa phương cũng như để đảm bảo việc học tập cho các cháu. Mặt khác, chị N hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, có thu nhập ổn định nên căn cứ vào quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình thì cần buộc chị N cấp dưỡng nuôi con cùng anh T mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (tổng hai cháu là 4.000.000 đồng/tháng) là phù hợp, đảm bảo mức sinh hoạt trung bình tại địa phương và nhu cầu thiết yếu của các cháu.
Chị N không trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, chị N, anh T đều không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 107, 110, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ánh N và anh Phan Văn T được ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Phan Nguyễn Kiều T1, sinh ngày 23/4/2015 và Phan Thiện N2, sinh ngày 02/9/2017 cho anh Phan Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,
Chị Nguyễn Thị Ánh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng anh Phan Văn T mỗi cháu mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), tổng hai cháu là 4.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi từng cháu thành niên đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị Ánh N có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ánh N và anh Phan Văn T không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo biên lai số 0013035 ngày 16/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị N phải nộp tiếp 300.000 đồng.
- Kể từ ngày anh Phan Văn T có đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu chị Nguyễn Thị Ánh N không chịu thi hành thì hàng tháng chị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Anh Phan Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Ánh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 363/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 363/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị N và anh T
