|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 363/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/09/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan – Nguyên Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.
- Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1252/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 384/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh năm 2001
- Địa chỉ thường trú: H, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 2000
- Địa chỉ thường trú: 552/4, tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt; ông T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T trình bày:
Bà và ông Phạm Ngọc T1 tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 26/01/2021.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng sau đó cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về mặt tình cảm, nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra xung đột và không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà và ông T1 cũng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không đạt kết quả, hai vợ chồng hiện đã sống ly thân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Ngọc T1.
Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là cháu Phạm Thiên P, sinh ngày 09/10/2023.
Khi ly hôn, bà đề nghị được nuôi dưỡng con chung và tạm thời không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định. Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T.
Về nuôi con chung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T, giao cháu: Phạm Thiên P, sinh ngày 09/10/2023 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có. Do ông T1 không có lời khai nên đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự, nhưng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông T1, bà T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
[3] Ông T1, bà T sau khi kết hôn chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T trình bày do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tôn trọng yêu thương nhau và không thể hàn gắn được, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà T xác định không còn tình cảm với ông T1, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn. Tòa án đã thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện hòa giải cho ông T1, bà T hàn gắn đoàn tụ, nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do. Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T, ông Phạm Ngọc T1 trong quá trình chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm rõ do địa phương không nhận được trình báo.
Quá trình Toà án giải quyết vụ án ông T1 không có mặt tham gia hòa giải tại Tòa án, còn bà T cương quyết xin ly hôn, cho thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của bà T về việc xin ly hôn với ông T1.
[4] Về con chung: Ông Phạm Ngọc T1, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T có 01 con chung tên Phạm Thiên P, sinh ngày 09/10/2023. Khi ly hôn, bà T đề nghị được nuôi dưỡng con chung và tạm thời không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Phạm Ngọc T1 không có mặt tại Tòa án khi Tòa triệu tập, cũng không có lời khai trình bày ý kiến về con chung. Xét cháu Phạm Thiên P hiện còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà T giao cháu Phạm Thiên P cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có. Do ông T1 không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003716 ngày 13/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T đã nộp xong án phí.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Biên Hòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 203; Điều 220, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T được ly hôn với ông Phạm Ngọc T1.
Về con chung: Giao cháu Phạm Thiên P, sinh ngày 09/10/2023 cho bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Phạm Ngọc T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Ngọc T1 không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của các con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có. Do ông T1 không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003716 ngày 13/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T đã nộp xong án phí.
Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh T, ông Phạm Ngọc T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- - VKSND (2);
- - THA DS TP.BH (1);
- - Đương sự (2);
- - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
- - Lưu (6).
Đỗ Thị Huyền
Bản án số 363/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 363/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn
