|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 363/2024/HS-ST Ngày 16 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Ông Nguyễn Quốc Bảo |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Huỳnh Phi Hổ |
| Ông Trần Công Danh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 361/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 352/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 638/2024/QÐST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Phạm Văn H (tên gọi khác: Đ), sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Nai
Nơi cư trú: A, tổ B, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1977; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình, bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 05/5/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 201/2020/HS-ST. Ngày 20/5/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí ngày 17/9/2020.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/02/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 480 ngày 05/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Hoàng L, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai
Nơi cư trú: B, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C1, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị Kim L1, sinh năm 1960; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Đinh Vũ Kim P, sinh năm 1986 và có 02 con, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 16/5/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 184/2005/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí năm 2006; Ngày 17/8/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 486/QĐ-TA, ngày 07/12/2017 bị cáo được Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại theo Quyết định số 706/QĐ-TA.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/02/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 483 ngày 05/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.
- - Bị hại: cháu Hoàng Dương Bảo L2, sinh ngày 24/3/2008 (vắng mặt)
- Người giám hộ: bà Dương Thị N, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: P, chung cư A, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Hồng T, sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Địa chỉ: A, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô biển số 53Y9-7906 đi đến khu vực “Xóm ruộng” thuộc phường Q, thành phố B tìm người tên B (không rõ lai lịch) để mua ma tuý. Tại đây, H gặp và mua của B 01 (một) gói ma tuý với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, H cất gói ma tuý trên vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe đi tìm nơi để sử dụng ma tuý. Khi đi đến đoạn đường H thuộc tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B thì H bị Công an phường B phát hiện, bắt quả tang và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 430/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2666 gam (không phẩy hai sáu sáu sáu gam), loại: Methamphetamine".
Vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) gói nilon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- - 01 (một) xe mô tô có số máy: C100MER9677 được gắn biển số 53Y9-7906. Qua tra cứu thì biển số xe 53Y9-7906 là của anh Đoàn Cảnh T1 ngụ số C, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; còn số máy xe là của anh Bùi Văn T2 ngụ số C, đường N, phường E, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã có công văn uỷ thác điều tra để lấy lời khai anh T1 và anh T2 nhưng chưa nhận được kết quả trả lời nên sẽ tiếp tục tạm giữ xe để xác minh, xử lý sau;
Trong quá trình điều tra, H khai nhận còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 22/02/2024, H đang đi bộ tại khu vực “Xóm ruộng” thuộc phường Q, thành phố B thì gặp Lê Hoàng L chạy xe mô tô hiệu Click, biển số 60F1-137.70 nên H nhờ L chở về nhà. Khi đi đến tiệm S tại số F đường H, phường B, thành phố B thì L thấy 01 xe đạp điện hiệu Samurai của em Hoàng Dương Bảo L2 (sinh năm 2008) ngụ khu phố D, phường Q, thành phố B dựng trước cửa tiệm và không có người trông coi. Lúc này, L2 rủ H trộm cắp xe thì H đồng ý nên L2 ngồi trên xe mô tô cảnh giới còn H đi đến lấy trộm xe. Sau đó, H ngồi lên xe đạp điện còn L2 thì điều khiển xe mô tô và dùng chân đẩy xe đạp điện từ phía sau để tẩu thoát. Tiếp đó, L2 dùng điện thoại di động hiệu Oppo F5 Youth gọi cho chị Trần Ngọc T3 ngụ số A, khu phố C, phường Q, thành phố B nói có xe đạp điện của đứa em cần bán thì chị T3 đồng ý mua nên L2 hẹn gặp chị T3 tại con hẻm thuộc khu phố A, phường B, thành phố B.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, L2 và H đến điểm hẹn rồi L2 mang xe đạp điện vào còn hẻm gần đó gặp chị T3 và bán xe với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). L2 đưa số tiền trên cho H thì H chia cho L2 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) còn H giữ 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và đã tiêu xài hết. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt giữ L2 và H để điều tra, xử lý.
Lời khai bị can tại các bút lục (41-49; 62-69; 154-161);
L3 khai người liên quan tại các bút lục (85-88);
Lời khai bị hại tại các bút lục (84-85);
Tại bản kết luận định giá số 62/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “01 (một) xe đạp điện Samurai trị giá 11.060.000 đồng (Mười một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng)”.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) xe đạp điện hiệu Samurai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho ông Hoàng Văn Đ1 (là cha của em Hoàng Dương Bảo L2);
- - 01 (một) xe mô tô, biển số 60F1-137.70, Lê Hoàng L mượn của ông Lê Văn C1 (ba ruột của L) nhưng ông C1 không biết việc L sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả xe mô tô trên cho ông C1;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 Youth là tài sản của Lê Hoàng L sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ.
Về dân sự: em Hoàng Dương Bảo L2 và ông Hoàng Văn Đ1 (là cha của em L2) đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Chị Trần Hồng T không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số: 365/CT-VKSBH ngày 18 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm 06 tháng tù đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Lê Hoàng L từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
- * Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
- * Về vật chứng đề nghị: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 Youth là công cụ phạm tội của Lê Hoàng L.
Quá trình tranh tụng, các bị cáo Phạm Văn H và Lê Hoàng L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại cháu Hoàng Dương Bảo L2 và đại diện hợp pháp cho cháu L2 là bà Dương Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Hồng T vắng mặt. Xét việc vắng mặt của bị hại và người liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử do quá trình điều tra bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại tài sản và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm, đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, nên việc xét xử vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người liên quan không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bị cáo và người liên quan; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 22/02/2024, tại trước tiệm S tại địa chỉ số F đường H, phường B, thành phố B, Phạm Văn H và Lê Hoàng L đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) xe đạp điện Samurai trị giá 11.060.000 đồng (Mười một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) của em Hoàng Dương Bảo L2, sinh ngày 14/3/2008.
Ngày 25/02/2024, tại đường H thuộc tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B, Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,2666 gam ma tuý, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ tuần tra Công an phường B phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Lê Hoàng L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội:
Về hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Lê Hoàng L: Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, cả hai bị cáo có vai trò như nhau, bị cáo L là người khởi xướng và bị cáo H là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Là vấn đề đang được quan tâm và trở nên nhức nhối trong toàn xã hội, ma túy đã đẩy nhiều người, nhiều gia đình, nhiều thế hệ vào vòng lao lý, làm xói mòn về đạo đức, làm suy thoái về giống nòi, là nguyên nhân dẫn tới làm phát sinh nhiều tội phạm khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của cháu Hoàng Dương Bảo L2, sinh ngày 24/3/2008 thuộc trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân:
Bị cáo Phạm Văn H có nhân thân vào ngày 05/5/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 201/2020/HS-ST.
Bị cáo Lê Hoàng L có nhân thân vào ngày 16/5/2005 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 184/2005/HSST. Ngày 17/8/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 486/QĐ-TA, ngày 07/12/2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử các bị cáo mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo và cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Các vấn đề liên quan vụ án:
Đối với đối tượng tên B có hành vì bán ma tuý cho Phạm Văn H, hiện nay chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chị Trần Hồng T mua xe đạp điện của Lê Hoàng L nhưng không biết đây là tài sản do L phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Hoàng Dương Bảo L2 và ông Hoàng Văn Đ1 (là cha của em L2) đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Chị Trần Hồng T không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong mẫu vật sau giám định vụ số 430/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 Youth, kiểu máy CPH1725, nứt màn hình, Imei 1:867994030174615, imei 2:867994030174607, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội của Lê Hoàng L. Buộc bị cáo Phạm Văn H nộp lại số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và buộc bị cáo Lê Hoàng L nộp lại số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) là số tiền do các bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt Phạm Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt Lê Hoàng L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói niêm phong mẫu vật sau giám định vụ số: 430/KL-KTHS, tên đối tượng: Phạm Văn H ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ;
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 Youth, kiểu máy: CPH1725, nứt màn hình, Imei 1:867994030174615, imei 2: 867994030174607, đã qua sử dụng
- (Các vật chứng trên đã được giao nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/10/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Công an thành phố B).
- - Buộc bị cáo Phạm Văn H nộp lại số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và buộc bị cáo Lê Hoàng L nộp lại số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc các bị cáo Phạm Văn H và Lê Hoàng L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Bảo |
Bản án số 363/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 363/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Lê Hoàng L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
