Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Số: 363/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14 - 6 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
  • Ông Đặng Anh Đoan
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 268/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981, nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(bà N có đơn xin vắng mặt, ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trình bày:

Cả hai do người làm mai mối, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, sau đám cưới vợ chồng ra xây nhà sống riêng, quá trình chung sống hàng ngày vợ chồng làm mướn, ai thuê mướn gì làm việc đó, sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông L không lo làm ăn, nhậu nhẹt say xỉn về kiếm chuyện chửi mắng, đánh đập vợ con, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, bất đồng ý kiến, ông L thường xuyên đánh đập bà N kéo dài đến năm 2018, vì cuộc sống vợ chồng quá khổ nên không thể chịu đựng, ông L tự bỏ đi, vợ chồng ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay tình cảm không còn, không thể hàn gắn yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn L.

+ Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Tuyết M, sinh ngày 08/5/2005 và Trần Duy T, sinh ngày 02/5/2013. Bà N yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Duy T, không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Cháu Trần Thị Tuyết M đã trưởng thành có gia đình.

+ Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ phải thu phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do cho thấy bị đơn không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn với ông L. Con chung tiếp tục giao bà N, ông L không cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 30/6/2008 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp là hôn nhân hợp pháp. Bà N cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do rạn nứt tình cảm, không liên lạc với nhau và đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Quá trình tố tụng, ông L cũng không thể hiện ý kiến và đến hoà giải. Xét thấy, hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: con chung hiện đang sống với bà N, đồng thời cháu có nguyện vọng sống chung mẹ, để đảm bảo môi trường phát triển của cháu tiếp tục giao con chung cho bà N nuôi dưỡng, bà N không yêu cầu cấp dưỡng nên ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí:N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

  1. Về hôn nhân gia đình: bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Văn L.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Duy T sinh ngày 02/5/2013 cho bà Nguyễn Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến thành niên hoặc tự lập được. Ông Trần Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định

  3. Về tài sản chung: Không
  4. Về nợ: Ghi nhận bà N trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  5. Về án phí: bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006578 ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông Trần Văn L không phải chịu án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân
  • - UBND xã Phú Bình, huyện Phú Tân
  • - TAND tỉnh An Giang
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Lâm Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 363/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 363/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Ngiên xin ly hôn với ông Linh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger